Luận Ngữ 論語 là một cuốn sách do Khổng Tử và những đệ tử của mình biên soạn. Luận Ngữ là một cuốn trong bốn cuốn sách gọi là Tứ Thư. Ngoài Luận Ngữ, Tứ Thư còn bao gồm Đại Học, Mạnh tử và Trung Dung.
1. Học Nhi 學而
子曰:學而時習之,不亦說乎?有朋自遠方來
,不亦樂乎?人不知而不慍,不亦君子乎?
Từ vựng
習tập: luyện đi luyện lại
之 chi: đại từ thay thế cho việc học
說 duyệt: niềm vui (chỉ niềm vui ở trong lòng)
乎hồ: thán từ, dịch là sao, chăng
遠 viễn: xa
樂 lạc, nhạc: niềm vui (chỉ niềm vui bên ngoài)
Phiên âm
Tử viết: học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ? Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ? Nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ?
Dịch nghĩa:
Khổng tử nói rằng: “Học mà thường hay tập luyện (những điều đã học), chẳng cũng vui lắm sao? Có bạn từ phương xa đến, chẳng cũng vui lắm sao? Người không biết đến ta mà ta không buồn, thì chẳng cũng phải là quân tử sao?
Bản dịch của cụ Nguyễn Hiến Lê
“ Khổng tử nói: “Học mà mỗi buổi tập, chẳng cũng thích ư? (Khi học đã tấn tới rồi) có bạn (cùng chí hướng) ở xa nghe tiếng mà tìm lại (để bàn về đạo lí với nhau) chẳng cũng vui ư? Nhưng nếu không ai biết tới mình mà mình không hờn giận thì chẳng cũng quân tử ư?”.
2. Lý nhân 里仁
子曰:「富與貴是人之所欲也,不以其道得之
,不處也;貧與賤是人之所惡也,不以其道得
之,不去也。君子去仁,惡乎成名.
Từ vựng và Ngữ pháp
之chi: trợ từ kết cấu (dịch là của)
所欲 sở dục: điều ham muốn
所惡sở ố: điều căm ghét
不以其道得之 bất dĩ kỳ đạo đắc chi có thể hiểu là: không đáng được mà được hoặc không đáng bị mà bị.
處 xử: ở vào đó
Phiên âm
Tử viết: “Phú dữ quí, thị nhân chi sở dục dã,
bất dĩ kì đạo đắc chi, bất xử dã.
Bần dữ tiện, thị nhân chi sở ố dã,
bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất khứ dã.
Quân tử khứ nhân, ố hô thành danh?"
Dịch nghĩa
Khổng tử nói: giàu và sang, con người ai cũng muốn (là điều ước muốn của con người vậy)
những chẳng phải đạo mà được giàu sang (không làm theo đạo mà được giàu sang) thì (người quân tử) chẳng thèm (không ở trong sự giàu sang đó).
Nghèo và hèn, con người ai chả ghét (là điều ghét bỏ của con người vậy)
nhưng chẳng sai với đạo mà bị nghèo (không đáng bị nghèo mà phải nghèo), thì (người quân tử) chớ bỏ ( người quân tử chớ bỏ).
Người quân tử mà bỏ đức nhân, sao gọi đúng tên được (quân tử).
Bản dịch của cụ Nguyễn Hiến Lê
Dịch. – Khổng tử nói: “Giàu và sang, người ta ai cũng muốn, nhưng chẳng phải đạo mà được giàu sang thì người quân tử chẳng thèm. Nghèo và hèn, người ta ai cũng ghét, nhưng chẳng lỗi đạo mà phải nghèo thì người quân tử chẳng bỏ”. - Người quân tử mà bỏ đức nhân thì làm sao được gọi là quân tử?
3. Vi chính 為政
子曰:「吾十有五而志於學,三十而立,四十
而不惑,五十而知天命,六十而耳順,七十而
從心所欲,不踰矩。」
Từ vựng và ngữ pháp
而 nhi: hư từ không dịch
志chí: để chí vào (dùng như động từ)
惑hoặc: nghi ngờ
Phiên âm
Tử viết: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí ư học;
tam thập nhi lập; tứ thập nhi bất hoặc;
ngũ thập nhi tri thiên mệnh; lục thập nhi nhĩ thuận;
thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ”.
Dịch nghĩa
Khổng tử nói: “Ta mười lăm tuổi để chí vào việc học (đạo);
ba mươi tuổi biết tự lập (tức khắc kỉ phục lễ, cứ theo điều lễ mà làm);
bốn mươi tuổi không nghi hoặc nữa (tức có trí đức, nên hiểu rõ ba đức nhân, lễ, nghĩa)
năm mươi tuổi biết mệnh trời (biết được việc nào sức người làm được, việc nào không làm được);
sáu mươi tuổi biết theo mệnh trời (chữ nhĩ ở đây không có nghĩa là tai, mà có nghĩa là dĩ =đã)
bảy mươi tuổi theo lòng muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lí (không phải suy nghĩ, gắng sức mà hành động tự nhiên, hợp đạo lí).
4. 大學 Đại Học
Trước khi đi vào văn bản xin nói qua về sách Đại Học. Sách Đại Học là một thiên trong bộ “Lễ Ký” do học trò của Đức Khổng Tử là ông Tăng Tử 曾 子, tự Tử Dư, tên thật là Tăng Sâm 曾参 (505 - 435 TCN) truyền lại. Đại Học được chia làm 11 phần. Phần đầu tiên gọi là Thánh Kinh, tức lời truyền dạy của Đức Khổng Tử. Mười phần sau là ghi chép của ông Tăng Tử giải thích phần Thánh Kinh.
Đại học đưa ra ba cương lĩnh (gọi là tam cương lĩnh), bao gồm: 明 明德Minh minh đức (làm sáng cái đức sáng của chính mình), 親 民Thân dân (gần gũi với dân chúng), 止於至善Chỉ ư chí thiện (an trụ ở nơi chí thiện).
Ba cương lĩnh này được cụ thể hóa bằng bát điều mục bao gồm:
格物cách vật (tiếp cận và nhận thức sự vật),
致知trí tri (đạt tri thức về sự vật),
誠意thành ý (làm cho ý của mình thành thực),
正心chính tâm (làm cho tâm của mình được trung chính),
修身tu thân (tu sửa thân mình),
齊家tề gia (xếp đặt mọi việc cho gia đình hài hòa),
治國trị quốc (khiến cho nước được an trị),
平天下bình thiên hạ (khiến cho thiên hạ được yên bình).
大學之道,在明明德,在親民,在止於至善。
知止而后有定,定而后能靜,靜而后能安,安
而后能慮,慮而后能得。物有本末,事有終始
,知所先后,則近道矣。古之欲明明德於天下
者,先治其國;欲治其國者,先齊其家;欲齊
其家者,先修其身;欲修其身者,先正其心;
欲正其心者,先誠其意;欲誠其意者,先致其
知,致知在格物。物格而後知至,知至而後意
誠,意誠而後心正,心正而後身修,身修而後
家齊,家齊而後國治,國治而後天下平. 自天子
以至於庶人,壹是皆以修身為本. 其本亂而末治
者否矣,其所厚者薄,而其所薄者厚,未之有 也!
Từ vựng
大學đại học: việc học lớn
之 chi: trợ từ kết cấu dịch là “của”
在 tại: cốt ở
而后nhi hậu: rồi sau mới
得 đắc: đạt được, thu hoạch được
以至於dĩ chí ư: cho đến
壹是 nhất thị: tất cả
否矣phủ hĩ: không có điều đó vậy
Phiên âm
Đại học chi đạo: tại minh minh-đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện. Tri chỉ nhi hậu hữu định; định nhi hậu năng tĩnh; tĩnh nhi hâu năng yên; yên như hậu năng lự; lự nhi hậu năng đắc. Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy; tri sở tiên hậu, tắc cận đạo hỷ. Cổ chi dục minh minh-đức ư thiên hạ giả; tiên tri kỳ quốc; dục tri kỳ quốc giả; tiên tề kỳ gia; dục tề kỳ gia giả; tiên tu kỳ thân; dục tu kỳ thân giả; tiên chính kỳ tâm; dục chính kỳ tâm giả; tiên thành kỳ ý; dục thành kỳ ý giả; tiên trí kỳ tri; trí tri; tại cách vật. Vật cách nhi hậu tri chí; trí chí nhi hậu ý thành; ý thành nhi hậu tâm chính; tâm chính nhi hậu thân tu; thân tu nhi hậu gia tề; gia tề nhi hậu quốc trị; quốc trị nhi hậu thiên hạ bình. Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản. Kỳ bản loạn nhi mạt trị giả, phủ hỹ; kỳ sở hậu giả bạc, nhi kỳ sở bạc giả hậu, vị chi hữu dã.
Dịch nghĩa
Đạo của Đại học (việc học lớn): cốt ở chỗ làm sáng cái đức sáng, cốt ở gần gũi với dân chúng, và cốt ở dừng lại ở nơi chí thiện (cảnh giới cao nhất của sự thiện).
Có biết dừng thì sau mới có định, định thì sau mới có thể tĩnh, tĩnh thì sau mới có thể yên, yên thì sau mới có thể tư lự tỉnh tường, tư lự tỉnh tường thì sau mới có thể được cái hay cái phải. Vật có gốc ngọn, sự có cuối có đầu, biết rõ trước sau thì gần đạo vậy.
Đời xưa người muốn làm sáng cái đức sáng ở thiên hạ, thì trước phải trị nước mình; người muốn trị nước mình, thì trước phải tề nhà mình, người muốn tề nhà mình, thì trước : phải sửa thân mình; người muốn sửa thân mình, thì trước : phải chính cái tâm của mình; người muốn chính cái tâm của mình, thì trước phải làm cho tình thành cái ý của mình, người muốn làm cho tỉnh thành cái ý của mình, thì trước phải biết đến chỗ cùng cực. Biết đến chỗ cùng cực là ở sự suốt tới chỗ uyên thâm của sự vật.
Suốt tới chỗ uyên thâm của sự vật, thì sau mới biết đến chỗ cùng cực; biết đến chỗ cùng cực, thì sau cái ý mới tính thành; cái ý đã tỉnh thành, thì sau cái tâm mới chính; cái tâm đã chính, thì sau cái thân mới tu, cái thân đã tu, thì sau nhà mới tề; nhà đã tể, thì sau nước mới trị; nước đã trị thì sau thiên hạ mới bình.
Từ đấng thiên tử cho đến kẻ thứ nhân, ai cũng phải lấy sự sửa mình làm gốc. Cái gốc loạn mà cái ngọn trị thì chưa có vậy; cái gốc mình đáng hậu mà bạc, cái ngọn mình đáng bạc mà hậu, là chưa có bao giờ.”
5. 中庸 Trung Dung
Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra cũng trên cơ sở một thiên trong Kinh Lễ. Tử Tư là học trò của Tăng Tử, cháu nội của Khổng Tử, thọ được cái học tâm truyền của Tăng Tử.
Trong sách Trung Dung, Tử Tư dẫn những lời của Khổng Tử nói về đạo "trung dung", tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân. Sách Trung Dung chia làm hai phần:
Phần 1: từ chương 1 đến chương 20, là phần chính, gồm những lời của Khổng Tử dạy các học trò về đạo lý trung dung, phải làm sao cho tâm được: tồn, dưỡng, tĩnh, sát; mức ở được gồm đủ: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín cho hòa với muôn vật, hợp với lòng Trời để thành người tài giỏi.
Phần 2: từ chương 21 đến chương 33, là phần phụ, gồm những ý kiến của Tử Tư giảng giải thêm cho rõ ràng ý nghĩa và giá trị của hai chữ trung dung.
子 程 子 曰 “不 偏 之 謂 中 ,不 易 之 謂 庸. 中
者天下之正道,庸者 ,天 下之定理” 此篇
乃孔門傳授心法 ,子 思恐其久而差也,
故 筆 之 於 書, 以 授 孟 子 。其 書 始 言 一 理
,中 散 為 万 事, 末 复 合 為 一 理, “放 之 則 彌
六合,卷之則退藏於密”,其味無窮 ,皆
實 學也 。善 讀者玩索而有得焉 ,則 終身
用 之,有不 能盡 者矣。
Phiên âm
Tử trình tử viết: “bất thiên chi vị trung, bất dịch chi vị dung. trung giả, thiên hạ chi chính đạo, dung giả, thiên hạ chi định lý”. thử thiên nãi khổng môn truyền thụ tâm pháp, tử tư khủng kỳ cửu nhi sai dã, cố bút chi ư thư, dĩ thụ mạnh tử. kỳ thư thuỷ ngôn nhất lý, trung tán vi vạn sự, mạt phúc hợp vi nhất lý, “phóng chi tắc di lục hợp, quyển chi tắc thoái tàng ư mật” kỳ vị vô cùng, giai thực học dã. thiện độc giả ngoạn sách nhi hữu đắc yên, tắc chung thân dụng chi, hữu bất năng tận giả hĩ.
Dịch nghĩa
thầy Trình Tử nói rằng: không thiên lệch gọi là Trung. Không thay đổi gọi là Dung. Trung là con đường chính của thiên hạ. Dung là lẽ định lý của thiên hạ. thiên sách này là môn tâm pháp của Đức Khổng tử truyền lại cho các học trò, rồi các học trò truyền lại cho nhau. Tử Tư e sợ rằng trải qua lâu đời đạo lý của thánh nhân, sẽ bị sai lạc, nên mới chép thành sách để truyền cho thầy Mạnh tử. Sách này đầu hết, tác giả nêu lên cái lý rồi từ cái lý đó mới phổ biến làm nên mọi sự, cuối cùng lại quy về cái lý đầu tiên. Đạo Trung dung nếu mở rộng ra thì bao trùm sáu cõi, mà thu hẹp lại thì giấu kín trong hạt nhân. Ý vị của trung dung thật vô cùng tận, đều là thực học. Người biết đọc sách phải suy nghĩ tìm tòi. Mới mong hiểu được đạo lý, và khi đã hiểu, thì đem ra ứng dụng mãi không hết.
第 一章
天 命之 謂性. 率性 之謂 道, 修 道之 謂教. 道
也 者不 可須 臾離 也, 可 離, 非 道也. 是故 君
子 戒 慎 乎 其 所 不 睹, 恐 懼 乎 其 所 不 聞. 莫
見 乎隱, 莫顯 乎微. 故君 子慎 其獨 也. 喜 怒
哀 樂 之 未 發 謂 之 中, 發 而 皆 中 節 謂 之 和.
中也者, 天下之大本也. 和也者, 天下之達
道 也. 致 中和, 天地 位焉, 萬物 育焉.
Từ vựng
天命 thiên mệnh: cái trời phú cho người
率 suất: noi theo
須臾 tu du: chốc lát
之謂chi vị: gọi là
PHIÊN ÂM
Thiên mệnh chi vi tính. Suất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo. Đạo dã giả bất khả tu du ly dã, khả ly, phi đạo dã. Thị cố quân tử giới thận hồ kỳ sở bất đổ, khủng cụ hồ kỳ sở bất văn. Mạc hiện hồ ẩn, mạc hiển hồ vi. Cố quân tử thận kỳ độc dã. Hỉ, nộ, ai, lạc chi vị phát vị chi trung, phát nhi giai trúng tiết vị chi hòa. Trung dã giả, thiên hạ chi đại bản dã. Hòa dã giả, thiên hạ chi đạt đạo dã. Trí trung hòa, thiên địa vị yên, vạn vật dục yên.
Dịch nghĩa
Mệnh trời gọi là tính, phát triển thuận theo tính gọi là đạo, tu dưỡng theo đạo gọi là giáo. Đạo là cái không thể xa rời được, nếu có thể xa rời được, thì đã không phải là đạo. Bởi thế người quân tử đặc biệt cảnh giác thận trọng ở chổ người ta không nhìn thấy, lo lắng sợ hãi ở chỗ người ta không nghe thấy. chẳng có gì rõ hơn vật che giấu, chẳng có gì làm hiễn lộ chân tướng hơn những việc bé nhỏ. Cho nên người quân tử đặc biệt thận trọng khi chỉ có ở một mình. Mừng, giận, buồn, vui khi chưa biểu hiện ra, gọi là trung, biểu hiện ra mà phù hợp với quy cũ mức độ, thì gọi là hòa. Trung là gốc lớn của thiên hạ, hòa là đạo lý thong đạt trong thiên hạ. Gắng sức đạt tới trung hòa, thì trời đất có được vị trí thỏa đáng, muôn vật được phát dục sinh trưởng.
--------------------------------------------------------------
Các cụm từ
送往迎來 tống vãng nghênh lai : tiễn cũ đón mới
百年皆老bách niên giai lão: trăm năm đều già
有機化學 hữu cơ hoá học: hoá học hữu cơ
有勇無謀 hữu dũng vô mưu: có sức không mẹo
至公無私 chí công vô tư: rất công bằng không thiên vị
有名無實 hữu danh vô thực: có danh mà không có thực
陰極生陽 âm cực sinh dương: hết âm sẽ sinh dương
絕世佳人 tuyệt thế giai nhân: người đẹp nhất trần đời
絕大多數 tuyệt đại đa số: đa số rất lớn
萬事起頭難 vạn sự khởi đầu nan: muôn việc khởi đầu đều gian nan
回心轉意 hồi tâm chuyển ý: thay đổi ý kiến
不求同年同月同日生,但求同年同月同日死
Bất cầu đồng niên đồng nguyệt đồng nhật sinh, đãn cầu đồng niên đồng nguyệt đồng nhật tử: không xin sinh cùng năm cùng tháng cùng ngày, nhưng nguyện chết cùng năm cùng tháng cùng ngày.
出鬼入神
為人臣止於敬 vi nhân thần chỉ ư kính: làm bề tôi thì dừng ở đức kính.
仁者無敵 nhân giả vô địch: người có lòng nhân thì vô địch.
久旱逢甘雨 cửu hạn phùng cam vũ: nắng hạn gặp mưa rào.
文王一怒而安天下之民 văn vương nhất nộ nhi an thiên hạ chi dân: một phen nỗi giận của Văn Vương mà yên được thiên hạ.
心安理得 tâm an lý đắc: yên tâm thoải mái
存心仁厚 tồn tâm nhân hậu: để lòng nhân hậu
南柯一夢 Nam Kha nhất mộng: giấc mộng Nam Kha (giấc mộng hão huyền)
兩手空空 lưỡng thủ không không:hai bàn tay trắng
雙手萬能 song thủ vạn năng: hai tay tài giỏi
思而不學則殆 tư nhi bất học tắc đãi: suy nghĩ mà không học thì nguy hại
所見所聞 sở kiến sở văn: những gì nghe được thấy được.
相見恨晚 tương kiến hận vãn: hối hận vì đã gặp nhau quá muộn.
三思而後行 tam tư nhi hậu hành: suy nghĩ kỹ rồi sau mới làm.
萬般皆是命半點不由人 vạn ban giai thị mệnh bán điểm bất do nhân: hết thảy việc đều do số mệnh chẳng chút nào do người.
想方設法 tưởng phương thiết pháp: tìm đủ mọi cách
成由謙遜敗由奢 thành do khiêm tốn bại do xa: nên việc vì khiêm tốn thất bại vì hoang phí.
--------------------------------------------
| 以牙還牙 | Dĩ nha hoàn nha | Lấy răng đền răng |
| 富而好施 | Phú nhi hiếu thi | Giàu mà sẵn sàng bố thí |
| 富國強兵 | Phú quốc cường binh | Nước giàu binh mạnh |
| 富貴不能淫 | phú quí bất năng dâm | Giàu sang không thể làm rối loạn tâm trí |
| 以身作則 | Dĩ thân tác tắc | Lấy mình làm gương (quy tắc) |
| 以身殉難 | Dĩ thân tuẫn nạn | Lấy thân mình hy sinh |
| 去惡存善 | Khử ác tồn thiện | Bỏ ác giữ thiện |
| 君子之交淡如水 | Quân tử chi giao đạm như thủy | Giao tình của người quân tử trong sạch như nước |
| 君子務本 | Quân tử vụ bản | Người quân tử chăm chú vào việc gốc (việc chính) |
| 禍福吉凶者命者 | Họa phúc cát hung giả, mệnh giả | May rủi lành hung, đều là mệnh |
| 浴速不達 | Dục tốc bất đạt | Muốn nhanh không đạt (khuyên đừng nóng vội) |
| 離心離德 | Li tâm li đức | Xa lòng xa ý (không thống nhất tư tưởng) |
| 相身相愛 | Tương thân tương ái | Yêu thương đùm bọc lẫn nhau |
| 親朋好友 | Thân bằng hảo hữu | Bạn bè thân hữu |
| 學無止境 | Học vô chỉ cảnh | Việc học không có dừng (học không có bờ) |
| 自始至終 | Tự thủy chí chung | Từ đầu đến cuối |
| 不止一次 | Bất chỉ nhất thứ | Không dừng ở thứ nhất |
| 至死不渝 | Chí tử bất du | Đến chết không đổi |
| 至理名言 | Chí lý danh ngôn | Câu danh ngôn rất có lý lẽ |
| 仁至義盡 | Nhân chí nghĩa tận | Hết lòng quan tâm giúp đỡ (tận tình tận nghĩa) |
| 日行一善 | Nhật hành nhất thiện | Mỗi ngày làm một điều thiện |
| 為善最樂 | Vi thiện tối lạc | Làm việc thiện là điều vui nhất |
| 隱惡揚善 | ẩn ác dương thiện | Tốt đẹp phô ra, xấu xa che lại |
| 能歌善舞 | Năng ca thiện vũ | Hát hay múa giỏi |
| 英勇善戰 | Anh dũng thiện chiến | có sức mạnh chiến đấu giỏi |
| 名人之後 | Danh nhân chi hậu | Con cháu của bậc danh nhân |
| 家無定產 | Gia vô định sản | Nhà không có tài sản cố định |
| 定能成功 | Định năng thành công | Xác định được khả năng thì sẽ thành công |
| 定死無疑 | Định tử vô nghi | Cái ý định chết không còn nghi ngờ gì nữa (quyết chết) |
| 風平浪靜 | Phong bình lãng tĩnh | Gió yên sóng lặng |
| 本末捯置 | Bản mạt đảo trí | Gốc ngọn đảo vị trí |
| 助人為快樂之本 | Trợ nhân vi khoái lạc chi bản | Giúp người là gốc của niềm vui |
| 本性難移 | Bản tính nan di | Bản tính khó dời |
| 有始有終 | Hữu thủy hữu chung | Có đầu có cuối |
| 無始無終 | Vô thủy vô chung | Không đầu không cuối |
| 無疾而終 | Vô tật nhi chung | Không bệnh mà chết |
| 始終如一 | Thủy chung như nhất | Đầu cuối như một |
| 先發後至 | Tiên phát hậu chí | Trước đi sau đến |
| 先走一步 | Tiên tẩu nhất bộ | Đi trước một bước |
| 先聖先賢 | Tiên thánh tiên hiền | Các bậc tài giỏi đời trước |
| 學如逆水行舟不 進則退 | Học như nghịch thủy hành chu, bất tiến tắc thoái | Học như đi thuyền lúc nước ngược, không tiến ắt lùi |
| 言近旨遠 | Ngôn cận chỉ viễn | Lời nói gần (đơn giản) mà ý tứ sâu xa |
| 知恥近乎勇 | Tri sỉ cận hồ dũng | Biết thẹn là gần với dũng vậy |
| 不近情理 | Bất cận tình lý | Không gần với tình lý không có tình có lý |
| 不近人情 | Bất cận nhân tình | Không hợp với lẽ của con người (thích gàn dỡ) |
| 力不足矣 | Lực bất túc hĩ | Không đủ sức |
| 是非不明黑白分明 | Thị phi bất minh, hắc bạch phân minh | Trái phải chưa rõ, đen trắng rõ ràng |
| 去向不明 | Khứ hướng bất minh | Bỏ đi không rõ ràng |
| 明人不說暗話 | Minh nhân bất thuyết ám thoại | Người ngay không nói lời có ẩn ý |
| 孝弟也者其為仁 之本與 | Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bản dư | Hiếu để thật là cái gốc của đức nhân vậy |
| 整治河川 | Chỉnh trị hà xuyên | Sửa trị sông ngòi |
| 草與齊人 | Thảo dữ tề nhân | Cỏ cao bằng người |
| 修指甲 | Tu chỉ giáp | Cắt móng tay |
| Dĩ thân tác tắc | Lấy mình làm gương | |
| 身敗名裂 | Thân bại danh liệt | Địa vị thì mất, danh tiếng thì tan |
| 光明正大 | Quang minh chính đại | Ngay thẳng và trong sáng |
| 正人君子 | Chính nhân quân tử | Bậc quân tử chính nhân |
| 誠心誠意 | Thành tâm thành ý | Thật lòng thật ý |
| 心悅誠服 | Tâm duyệt thành phục | Lòng vui mừng mà tòng phục |
| 詞不達意 | Từ bất đạt ý | Lời không diễn tả hết ý |
| 出其不意 | Xuất kỳ bất ý | Bất ngờ ra ngoài ý liệu của người khác |
| 專心致志 | Chuyên tâm trí chí | Hết sức chuyên chú |
| 格殺無論 | Cách sát vật luận | Giết không cần bàn luận |
| 物我兩忘 | Vật ngã lưỡng vong | Cả đối tượng và sự vật ta đều quên |
| 言之有物 | Ngôn chi hữu vật | Nói năng rõ ràng |
| 事在人為 | Sự tại nhân vi | Thành bại của việc đều do quyết định của con người |
| 指鹿為馬 | Chỉ lộc vi mã | Chỉ hươu bảo ngựa |
| 失敗為成功之母 | Thất bại vi thành công chi mẫu | Thất bại là mẹ thành công | ||
| 以假亂真 | Dĩ giả loạn chân | Lấy cái giả làm rối điều thật | ||
| 深情厚誼 | Thâm tình hậu nghị | Tình sâu nghĩa nặng | ||
| 忠厚老實 | Trung hậu lão thực | Ngài thực là người có lòng trung thành và nhân hậu | ||
| 厚此薄彼 | Hậu thử bạc bỉ | Nặng bên này, nhẹ bên kia | ||
| 出身為薄 | Xuất thân vi bạc | Xuất thân nghèo khổ | ||
| 厚古薄今 | Hậu cổ bạc kim | Dày xưa mỏng nay, trọng cổ khinh kim | ||
| 未敢苟同 | Vị cảm cẩu đồng | Chưa dám đồng ý vội | ||
| 謹言慎行 |
| Cẩn thận trong lời nói và thận trọng trong việc làm | ||
| 離經返道 | Ly kinh phản đạo | Không tuân thủ đạo lý trong kinh sách, làm trái đạo lý | ||
| 有目共睹 | Hữu mục cộng đổ | Mọi con mắt đều thấy (rõ như ban ngày) | ||
| 慘不忍睹 | Thảm bất nhẫn đổ | Thảm thương không nỡ nhìn | ||
| 有恃無恐 | Hữu thị vô khủng | Có chỗ dựa, thì đừng sợ | ||
| 恐未必如此 | Khủng vị tất như thử | E rằng không hẵn đến như vậy | ||
| 所見所聞 | Sở kiến sở văn | Điều thấy điều nghe | ||
| 百聞不如一見 | Bách văn bất như nhất kiến | Trăm nghe không bằng một thấy |
| 莫不歡喜 | Mạc bất hoan hỉ | Không khi nào vui như thế (vô cùng vui) |
| 非請莫入 | Phi thỉnh mạc nhập | Không mời chớ vào |
| 莫測高深 | Mặc trắc cao thâm | Sâu xa không lường được |
| 變化莫測 | Biến hóa mạc trắc | Thay đổi liên tục |
| 若隱若現 | Nhược ẩn nhược hiển | Lúc ẩn lúc hiện |
| 直言不隱 | Trực ngôn bất ẩn | Nói thẳng không ẩn ý |
| 難言之隱 | Nan ngôn chi ẩn | Có điều khó nói |
| 大顯身手 | Đại hiển thân thủ | Thân thủ cao cường bây giờ mới lộ (thi thố tài năng) |
| 顯而易見 | Hiển nhi dịch kiến | Rõ ràng dễ nhìn thấy |
| 顯楊父母 | Hiển dương phụ mẫu | Làm rạng rỡ cha mẹ |
| 具體而微 | Cụ thể nhi vi | Cụ thể trong phạm vi nhỏ |
| 人微言輕 | Nhân vi ngôn khinh | Người nhỏ lời nhẹ |
| 好大喜功 | Hiếu đại hỉ công | Thích làm lớn hám công to |
| 出身寒微 | Xuất thân hàn vi | Xuất thân nghèo khổ |
| 喜新厭舊 | Hỉ tân yếm cựu | Vui mới chán cũ |
| 朝發夕至 | Chiêu phát tịch chí | Sáng đi chiều đến |
| 達成願望 | Đạt thành nguyện vọng | Đạt được cái ước muốn |
| 不在其位不謀其 政 | Bất tại kỳ vị, bất mưu kì chính | Không ở chức vụ nào, thì đừng mưu tính việc của chức vụ đó |
| 率由舊章 | Suất do cựu chương | Noi theo lối cũ |
| 率皆如此 | Suất giai như thử | Noi theo như vậy |
| 視若無睹 | Thị nhược vô đổ | Coi như không thấy |
| 微言大義 | Vi ngôn đại nghĩa | Lời nhẹ nghĩa sâu |
| 彈無虛發 | Đạn vô hư phát | Không phát nào trượt |
