Cool Blue Outer Glow Pointer

TÌM HIỂU CHỮ HÁN - Những vấn đề cơ bản về nguồn gốc, diễn biến, kết cấu, hình thể, cách thể hiện, bộ thủ

17/06/2023

 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỮ HÁN



1. NGUỒN GỐC

Tiếng Hán là tiếng nói của dân tộc Hán. Văn tự Hán là thứ chữ được người Hán sáng tạo ra để ghi lại tiếng nói của họ. Qua khảo cứu người ta tìm thấy loài người sống trên lãnh thổ Trung Quốc đã có tiếng nói đầu tiên cách đây 50-60 vạn năm; tuy nhiên, văn tự cổ nhất của Trung Quốc xuất hiện cách đây trên 3.000 năm. Chữ Hán hình thành và phát triển tương tự các thứ văn tự nói chung trên thế giới, tức đã trải qua các giai đoạn tiền thân là thắt nút dây và khắc vạch.

Theo truyền thuyết của Trung Quốc, người tạo ra văn tự Hán là ông Thương Hiệt - một vị sử quan của Hoàng đế. Hoàng đế là vị vua trong truyền thuyết lên ngôi năm 2698 TCN.  Thương  Hiệt  được  mô  tả  là  đầu  rồng,  4  mắt  sáng  như  đèn,  miệng  to  như  cái chậu…, nhìn vết chân chim muông mà phân biệt được giống loài, liền theo đó mà tạo ra văn tự… lúc ông tạo ra văn tự, gạo trên trời tuôn xuống như mưa, đêm đêm quỷ khóc ma kêu… Đấy chẳng qua  là chuyện hoang  đường. Văn tự Hán thực ra  chính là thành quả sáng tạo của tập thể nhân dân lao động Trung Hoa cổ đại. Còn chữ Hán có từ bao giờ là vấn đề đến nay chưa được giải quyết.

Dấu vết xưa nhất của chữ Hán được tìm thấy là Giáp cốt văn. Đó là những chữ Hán được khắc trên những mảnh mai rùa (giáp 甲) và xương thú (cốt 骨) tình cờ đào được ở vùng An Dương, Hà Nam, Trung Quốc vào năm 1899. Đây là nơi kinh đô cũ nhà Ân. 

Trên 16 vạn mảnh mai rùa và xương thú này có khoảng 2000 mặt chữ khắc vạch, viết bằng một thứ chữ tượng hình, khá phức tạp, tinh tế, nội dung ghi lại chủ yếu là những quẻ bói, những câu hỏi và những lời giải thích ứng nghiệm gọi chung la Bốc từ hay Trinh bốc văn. Thời đại áng chừng TK 13-14 TCN (khoảng triều Vũ Đinh:1324-1266 TCN).

Đặc điểm của loại văn tự nói trên là mỗi chữ đều có hình-âm-nghĩa, tức có thể nhìn hình mà biết nghĩa. Thời kỳ này hình dáng của chữ gần giống với vật thật. Ví dụ:

山 Sơn                   水 Thuỷ                            人nhân

日 Nhật                 月 Nguyệt                           火 Hoả …

2. DIỄN BIẾN

Ta được biết, vào buổi ban đầu của việc tạo chữ, chữ Hán là do mỗi người ở mỗi nơi khác nhau đặt ra, ai muốn diễn tả vật gì thì tự vẽ lấy. Dần dần người ta thống nhất cách viết, đơn giản hoá nét vẽ của loại chữ đồ hoạ, cách điệu nét chữ. Do đó, nét chữ thoát ly dần hình vẽ và có khuynh hướng biểu âm.

Chữ Hán là 1 loại chữ ô vuông, vốn có lịch sử lâu đời, trải qua quá trình phát triển dài lâu, được cấu thành bằng những yếu tố đơn giản và phức tạp gọi là NÉT, cực kỳ khó nhớ. Do vậy, người Trung Quốc đã thực hiện cải cách văn tự bằng cách giảm tối đa số nét trong một chữ, hệ thống hoá toàn bộ kho chữ để tiện ghi nhớ, tra cứu và sử dụng, trong khi chưa thể thực hiện la-tinh hoá hệ thống chữ viết này (lưu ý: ngày nay, Trung Quốc quy định một hệ thống phiên âm la-tinh cho tiếng nước họ, nhưng đó chỉ là đơn thuần phiên âm dành cho người nước ngoài ở giai đoạn đầu học tiếng Trung Quốc mà thôi).

Chữ Hán, để có được những đường nét uyển chuyển, ổn định như ngày hôm nay, đã trải qua quá trình diễn biến phức tạp về mặt hình thể, cụ thể là trải qua 3 thời kỳ phát triển lớn, mỗi thời kỳ có những loại chữ tiêu biểu và những đặc điểm nổi bật như sau: 

- Thời kỳ cổ văn tự: có loại chữ Giáp cốt văn (1700-1400 TCN), Đại triện (776-250 TCN) và Tiểu triện (250 TCN-25), với đặc điểm tượng hình, biểu ý.

- Thời kỳ quá độ: có chữ Lệ (25-220). 

-  Thời  kỳ kim  văn  tự:  có  chữ  Khải,  bao  gồm chân  thư  và  hành  thư  (180◇),  chữ Giản thể (vốn có từ đời Hán, tồn tại với tư cách tục tự, được coi là chính thức từ 1956), với đặc điểm biểu ý, tiêu âm.

3. KẾT CẤU (cấu tạo):

Chữ  Hán  thuộc  loại  hình  văn  tự  tượng  hình-biểu  ý  được  cấu  tạo  bởi  những  nét không thể đánh vần, về cơ bản mỗi chữ đều có hình-âm-nghĩa. Vào thời nhà Ân (thế kỷ 14 TCN) có khoảng 2000 mặt chữ (Giáp cốt văn), đến cuối thời Hán (thế kỷ II) số chữ thông dụng là 9.353 (tính theo Thuyết văn giải tự), đến nay tổng số chữ lên đến 85.000 (theo Trung Hoa tự hải của Lãnh Ngọc Long, 1994- dẫn lại theo Trần Văn Chánh –Lê Anh Minh trong Toàn thư tự học chữ Hán, Nxb. Trẻ, Tp HCM, 2002).

Về cấu tạo có thể chia chữ Hán làm 2 nhóm lớn: nhóm biểu ý và nhóm biểu âm. Truyền thống chia theo Lục thư, cách phân loại vốn do Hứa Thận đề xuất từ công trình Thuyết văn giải tự, quyển tự điển xuất bản năm 100, như sau:

3.1. Tượng hình:

Là chữ vẽ thành các vật căn cứ theo hình thể của sự vật có thực và dần dần được cải biến đi. Ví dụ: 日,月, 木,火, 山,水 。。。

3.2. Chỉ sự:

Là chữ hình thành để ghi các khái niệm trừu tượng, có thể trông mà biết được, xét mà rõ ý. Ví dụ: 上,下,一,二,三,開 。。。

3.3. Hội ý:

Là chữ do ghép nhiều thành phần hình vẽ hoặc ký hiệu lại với nhau tạo thành. Mối tương   quan   giữa   những   thành   phần   ấy   biểu   đạt   ý   nghĩa   của   từ.   Ví   dụ:   明,  林,众,古 。。。

Ba loại trên thuộc nhóm văn tự thuần tuý biểu ý, không có thành phần biểu âm.

3.4. Hình thanh:

Là chữ cấu tạo theo nguyên tắc kết hợp âm thanh và ý nghĩa. Mỗi chữ được hợp thành bởi 2 thành tố: một biểu ý và một biểu âm. Ví dụ: 河,江,湖 。。。

3.5. Giả tá:

Là loại chữ vốn không có chữ mà đi mượn chữ có sẵn của một từ khác, đồng thời mượn đúng âm, hoặc âm na ná, của chữ sẵn có đó để thể hiện một từ khác. Hoặc âm- nghĩa của chữ giả tá này quen dùng hơn, người ta ít ai còn nhớ âm-nghĩa ban đầu của nó mà trên thực tế không dùng đến nữa; hoặc vẫn còn song song sử dụng cả cách dùng mới (giả tá) lẫn cách dùng vốn có (trước khi cho mượn). Ví dụ: 長, 令,萬 。。。

3.6. Chuyển chú:

Là loại chữ có ý nghĩa tương đồng, nhiều khi có âm cũng giống nhau, có thể chú nghĩa cho nhau được. Chuyển chú là cách giải thích những cặp chữ đồng nghĩa. Ví dụ: 老,考 .

Ba loại kể sau thuộc nhóm văn tự có thành phần biểu âm. Như vậy, theo Lục thư có 6 phép tạo ra chữ như trên đã nói, nhưng thật ra chỉ có 4 phép đầu thực sự là những biện pháp tạo ra chữ mới, còn 2 phép sau chỉ là những biện pháp sử dụng chữ mà thôi. Giả tá là sử dụng chữ theo lối vay mượn, còn chuyển chú là biện pháp giải thích nghĩa của chữ.

Về cách phân loại văn 文 và tự 字:

Căn cứ vào tính đơn giản hay phức tạp của việc tạo thành chữ, người ta chia văn tự Hán ra làm 2 loại lớn:

- Văn 文 : gồm những chữ tượng hình hoặc chỉ sự, tức chữ đơn, do các nét liên kết nhau.

- Tự 字 : gồm những chữ hội ý và hình thanh, tức chữ ghép, do các văn liên kết nhau.

4. HÌNH THỂ:

Về hình thể, từ khi ra đời cho đến cuối thời Hán (thế kỷ II), văn tự Hán đã trải qua 3 giai đoạn chủ yếu:

4.1. Giai đoạn vẽ hình:

Giáp cốt văn thời nhà Thương (Ân) là những chữ Hán cổ nhất hiện sưu tầm được. Đến đời Chu, những chữ tượng hình có phần đơn giản hơn Giáp cốt văn được khắc trên các chuông đỉnh gọi là Chung đỉnh văn. Đặc điểm chung của các loại chữ này là rất giống hình vẽ.

3.2. Giai đoạn vạch thành đường:

Đời Chu chế được sơn, người ta dùng que chấm sơn vạch trên thẻ gỗ thẻ trúc. Chữ vạch ra ngày càng khác với hình vẽ, tiến tới chỗ đơn giản. Một số cơ cấu của chữ viết được quy thành những đường vạch tương đối ổn định, và cho ra đời loại chữ gọi là Trựu thư, hoặc Đại triện, tương truyền do Thái sử Trựu đời Chu Tuyên vương (827-782 BC) tạo ra.

Đến cuối Chiến quốc (475-221 BC), theo lệnh Tần Thỉ hoàng, Lý Tư quy định lối viết chữ thống nhất trong toàn quốc gọi là Tiểu triện. Chữ Tiểu triện bấy giờ đã viết thành nét, quy cách, hình dáng thống nhất, đơn giản hơn rất nhiều so với Đại triện (Trựu thư). 

Hai giai đoạn trên thuộc thời kỳ cổ văn tự.

4.3. Giai đoạn viết thành nét:

Cũng vào cuối Chiến quốc, một lối viết đơn giản hơn đã lưu hành trong dân gian, binh lính, thư lại gọi là Lệ thư, tồn tại song song với lối viết chính quy. Đặc điểm của Lệ thư là kết cấu đơn giản, sáng sủa, văn tự Hán bước vào một giai đoạn mới trong quá trình ổn định về mặt hình thể, không còn gống hình vẽ nữa, được cấu trúc bằng một số thành phần cố định gọi là NÉT, như sau:

- nét ngang:      一

- nét sổ:            丨

- nét phảy:        丿丿ノ

- nét mác:         乀

- nét chấm:       丶ヽ

- nét hất:

- nét ngoặc (gãy):         ㄅㄣ乛

- nét móc:         乚亅

Đó là 8 nét cơ bản.

Đời Hán chế được bút lông, mực, giấy. Kiểu chữ Bát phân (còn gọi là Hán Lệ: chữ Lệ đời Hán) ra đời, chữ vuông vức, đẹp mà trang nhã. 

Sau đó, do yêu cầu ghi chép nhanh, nhiều lối viết thảo ra đời, nét chữ dính vào nhau, bay bướm nhưng khó đọc.

Cuối đời Hán, lại một kiểu chữ mới nữa ra đời, với đặc điểm “ngang bằng sổ ngay” gọn gàng, đơn giản, dễ viết, gọi là Khải thư (楷 khải: khuôn phép, mẫu mực), được coi là lối viết chính quy của văn tự Hán, lưu hành rộng rãi cho tới ngày nay với 2 kiểu chân thư và hành thư (真 書 如 立 , 行 書 如 行) (cũng có người cho hành thư là lối chữ trung gian giữa khải thư và thảo thư).

Cuối cùng là chữ giản thể Loại chữ này vốn có từ đời Hán, không khác với khải thư về hình dáng nét bút nhưng là ít số nét hơn, giản tiện cho việc ghi chép và dễ nhớ. Chữ giản thể được nhà nước Trung Quốc chấp nhận và phổ biến rộng rãi trong toàn quốc từ năm 1956.

5. CÁCH GHI NHẬN – CÁCH THỂ HIỆN:

Chữ Hán thuộc loại hình văn tự biểu ý, được cấu thành bởi một hệ thống các yếu tố gọi là nét, rất khó nhớ. Hơn nữa, bản thân các nét trong một chữ Hán cũng được quy định cách viết, sao cho thuận bút, và mỗi chữ Hán được bố trí số nét trong một ô vuông một cách hài hoà cân đối, dù là ít hay nhiều nét, các ô vuông đều phải bằng nhau trong một kiểu văn bản.

Để khắc phục những khó khăn ban đầu, người học cần phải:

- nắm vững và vận dụng các nguyên tắc cấu tạo chữ

- vận dụng phương pháp so sánh, tập hợp đối với những chữ có tự dạng tương cận, những chữ cùng bộ, những chữ đồng âm dị nghĩa… để tìm những nét tương đồng và dị biệt.

- thường xuyên ôn luyện, tập viết chữ…

Chữ Hán trải qua 2000 năm viết bằng bút lông, ngoài chức năng chuyển tải thông tin như mọi hệ thống văn tự khác, còn có chức năng trang trí. Viết chữ Hán còn là một môn nghệ thuật, đó là vấn đề khác. Tuy nhiên, người học chữ Hán mọi nơi và mọi thời đều nhất thiết phải biết một số nguyên tắc cơ bản về cách viết chữ Hán về cách vận bút cũng như thứ tự trước sau các nét, dù là viết bằng bút chì hay bút mực, bút lông hay bút sắt. Đại thể, viết chữ Hán phải tuân theo thể thức sau:

5.1. Quy luật bút thuận:

8 nét cơ bản, kể cả các biến thể ít nhiều từ các nét này, đều có cách viết riêng. Ngoài ra, các nét trong một chữ Hán khi viết phải tuân theo quy luật bút thuận sau:

- trên trước dưới sau:             三 , 二 ,  上 , 工

- trái trước phải sau:               川  , 林 , 仁 , 好

- ngang trước sổ sau:              十 , 千 , 中 , 年

- phảy trước mác sau:            文 , 爻 , 人 , 又 , 友 , 走

- giữa trước hai bên sau:            小 , 水 , 樂 , 學

- ngoài trước trong sau:          用 , 月 , 句

- vào trước đóng sau (nét ngang đáy và nét ngang đóng viết sau cùng): 日, 曰, 田, 因...

5.2. Tính cân đối của chữ Hán:

Các bộ phận của một chữ Hán còn được sắp xếp cân đối nhất định. Đại thể, cách phân bố các bộ phận của chữ Hán chia làm các loại sau:

- sắp xếp theo hình chữ “phẩm” 品 :

Vd: 森 sâm, 磊 lỗi,  轟 oanh, 晶 tinh, 众 chúng, 淼 (diểu/miểu: nước mênh mông).

- sắp xếp trên dưới:                萬 vạn, 意 ý, 昌 xương, 章 chương…

- sắp xếp trái phải:                 卻 khước, 腳 cước, 類 loại, 讀 độc…

- sắp xếp trong ngoài:            開 khai, 同 đồng,  風 phong,  國 quốc…

Ngoại lệ:

- nếu phần bên ngoài là bộ sước 辶 hay bộ dẫn 廴thì phần bên trong viết trước. Ví dụ: 近 cận, 道 đạo, 廷 đình, 延 diên…

- dấu chấm ở góc trên-phải viết sau: 戈 qua, 我 ngã, 者 giả,  殺 sát, 或? hoặc…

6.  KHÁI NIỆM VỀ BỘ – BỘ THỦ CHỮ HÁN

Để sắp xếp, hệ thống hoá kho chữ Hán một cách hợp lý, người ta đã dựa vào kết cấu và mối quan hệ khăng khít giữa ba mặt hình thể, âm đọc, ý nghĩa của văn tự Hán để chia toàn bộ kho chữ Hán thành những đơn vị tập hợp gọi là “bộ”. Những chữ cùng chung bộ đều có liên quan với nhau trên một số mặt nào đó (thường liên quan về nghĩa, đôi khi liên quan về âm hoặc chỉ đơn thuần về hình thức một nhóm nét bút nào đó…). Đứng đầu mỗi bộ có một chữ tiêu biểu gọi là “bộ thủ” (chữ đứng đầu bộ). Việc phân chia này vốn có từ đời Hán với công trình có tên Thuyết văn giải tự của nhà văn tự học Hứa Thận. Tuy vậy, từ đời Minh đến nay người ta thống nhất cách phân bộ của Mai Ưng Tộ. Họ Mai đã sặp xếp lại 540 bộ của Hứa Thận thành 214 bộ. Phần lớn các bộ thủ đều là chữ tượng hình, và hầu hết được dùng làm ký hiệu biểu ý của loại chữ hình thanh. Thông thuộc hệ thống bộ thủ sẽ có được cơ sở thuận lợi để ghi nhớ văn tự Hán về cả ba  mặt  hình-âm-nghĩa.  Một  bộ  phận  chữ  Nôm  có  cấu  tạo  tương  tự phương  thức  hình thanh của chữ Hán cũng sử dụng một số bộ thủ của văn tự Hán làm ký hiệu biểu ý. Do đó, việc tìm hiểu kỹ các bộ thủ còn là yêu cầu cần thiết đối với việc học tập, nghiên cứu chữ Nôm sau này.

Ví dụ, trong chữ Hán, những chữ sau đây được xếp chung vào một bộ:

Bộ 心 có dạng biến thể 忄ở bên trái chữ (gọi là “tâm đứng”), và       hoặc      ở bên dưới chữ. Vd: 恨 ,惜 , 慣 , 恭 …

木, 梅, 桃, 李, 本,末,未,果,松,柏,林,森 … và lấy 木 làm bộ thủ

Bộ thủ thường gọi tắt là bộ, có thể nằm ở:

- bên phải chữ: 對 đối, 到 đao, 相 tương…

- bên trái chữ: 梅 mai, 江 giang, 恨 hận…

- bên trên: 苦 khổ, 岸 ngạn, 等 đẳng…

- bên dưới: 意 ý, 樂 lạc, 堅 kiên…

- bên ngoài: 國 quốc, 開 khai…

- bên trong/ giữa: 慶 khánh, 悶 muộn, 愛 ái…

- hai bên (trên dưới/ trái phải): 衛vệ (giữ gìn), 袞 cổn (áo vua)…

Bộ có thể nằm ở các vị trí khác nhau trong chữ như trên, nhưng thông thường, bộ ở vị trí khác nhau thì hình-âm-nghĩa đã đổi khác:

Vd: 忘 vong (quên; xao nhãng), nhưng  忙 mang (bận; vội); 忠 trung (hết lòng), nhưng 忡 xung (lo lắng)…

Rất ít trường hợp thay đổi vị trí bộ mà âm và nghĩa không đổi, chẳng hạn: 慚 có thể viết 慙 tàm (xấu hổ, thẹn)… Bộ vốn cũng là một chữ. Một số bộ có một hoặc vài biến thể; nhưng khi ở dạng biến thể thì bộ không thể đứng độc lập thành chữ mà chỉ là một thành phần của chữ mà thôi.

Ví dụ:

Bộ 人 có dạng biến thể là 亻(thường gọi “nhân đứng”) và ở vị trí bên trái chữ. Vd: 信 , 佛, 作 …

Bộ 水 có biến thể 氵ở bên trái chữ, và 氺 ở bên dưới chữ. Vd: 海,源,泰

Bộ 火 có biến thể 灬 ở bên dưới chữ. Vd: 無 , 然 , 熟 …

Bộ 刀 đao có biến thể刂ở bên phải chữ. Vd: 到 , 劍 , 刻 …

Bộ 犬 có biến thể 犭ở bên trái chữ. Vd: 獄 , 猶 ,  狼 …

Một số bộ lại luôn tồn tại dưới dạng biến thể, như:

- bộ 艸 ◇ 艹thảo, vd:  花 , 芳 , 芝 , 蘭 …

- bộ 邑 ◇  阝ấp, vd: 郡 , 鄉 , 鄰 …

- bộ 阜 ◇ 阝phụ, vd: 陵 , 阮 , 陳 …

- bộ 辵 ◇ 辶 sước, vd: 遠 , 近 , 途 …

Hiểu rõ ý nghiã các bộ giúp ta tra nhanh một chữ Hán trong các loại tự điển, đồng thời giúp ta nắm bắt bản chất của văn tự Hán về cả 3 mặt hình-âm-nghĩa dễ dàng. Thông thường, một chữ Hán do nhiều nhóm nét có hình thức của bộ tạo thành. Tuy nhiên, đoán biết một chữ Hán thuộc bộ nào còn là do kinh nghiệm, tức từng trải nhiều thì thành thói quen.

7. CÁCH TRA TỰ/TỪ ĐIỂN

7.1.  Tra  theo  vần  abc:  như  tra  tiếng  Việt,  khi  đã  biết  âm  Hán-Việt.  Tiêu  biểu  có Hán-Việt từ điển giản yếu của Đào Duy Anh (từ điển này cũng tra được theo cách đếm nét một chữ Hán khi chưa biết âm và nghĩa).

7.2. Tra theo bộ thủ: là lối tra phổ biến đối với một chữ Hán chưa biết âm và nghĩa.

Tiêu biểu có Hán-Việt tự điển của Thiều Chửu, Tự điển Hán-Việt của Trần Văn Chánh.

Các loại tự/ từ điển Hán-Hán đều có cách tra này.

7.3. Tra theo “tứ giác”: tức theo hình dáng nét bút của 4 góc chữ được mã hoá thành số đếm từ 0 đến 9. Tiêu biểu có Vương Vân Ngũ Tự điển, tra Hán-Hán...

8. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TẠO TỪ VÀ CÂU TRONG VĂN NGÔN

8.1. Từ trong văn ngôn:

8.1.1.  Tự và từ:

TỰ  là  đơn  vị  thanh  âm,  đồng  thời  là  đơn  vị  chữ  viết.  Khi  đọc  lên  mỗi  tự  là  một tiếng, một âm tiết. Mỗi tự viết trong một ô vuông, chiếm một diện tích bằng nhau trong cùng chế độ văn bản.

TỪ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có ý nghĩa (đơn vị ý nghĩa) và có thể sử dụng độc lập.

Một tự có thể là một từ (như 山 sơn, 人 nhân, 馬 mã, 海 hải…), có thể chưa phải từ (như 葡 bồ, 萄 đào, 蜻 tinh, 蜓 đình…). Các tự 葡 bồ, 萄 đào, 蜻 tinh, 蜓 đình… chưa biểu đạt khái niệm nào cả, chúng cần kết hợp những tự khác mới trở thành từ. Vd: 葡萄 bồ đào (=nho), 蜻 蜓 tinh đình (=chuồn chuồn)… Từ thể hiện bằng một tự gọi là từ đơn âm, được  thể  hiện bằng  2  tự  trở  lên  gọi là  từ  đa âm. Trong  văn ngôn, từ đơn  âm chiếm đa số. Trong Hán ngữ hiện đại, từ song âm chiếm đa số tuyệt đối.

8.1.2.  Cấu tạo của từ:

Về mặt cấu tạo, nếu xét trên phương diện âm tiết, người ta chia từ thành từ đơn âm (1 âm tiết) và từ đa âm (2 âm tiết trở lên). Nếu xét về mặt đơn giản hay phức tạp của hàm ý về mỗi từ, người ta phân từ thành từ đọn từ ghép, từ gộp.

Từ đơn là từ có kết cấu đơn thuần, thông thường có 1 âm tiết, do 1 tự biểu thị (tức đồng thời là từ đơn âm). Từ đa âm thường là từ song âm (có 2 âm tiết, thể hiện bằng 2 tự, như  葡萄 bồ đào, 踟躕 trì trù , 徘徊 bồi hồi, 蕭蕭 tiêu tiêu, 悠悠 du du…).

Từ ghép là từ có kết cấu không đơn thuần, phần nhiều do 2 từ đơn kết hợp với nhau tạo thành. Các thành tố của từ ghép có liên quan với nhau về mặt ý nghĩa. Căn cứ vào phương thức cấu tạo, người ta chia từ ghép làm nhiều loại, chủ yếu có các loại sau: từ ghép trùng lặp (家家 gia gia, 處處 xứ xứ, 人人 nhân nhân…), từ ghép do kết hợp 2 từ đơn  có  ý  nghĩa  gần  nhau  hoặc  giống  nhau  tạo  thành  (朋友 bằng  hữu,  顯 hiển  trước, 險阻 hiểm trở), từ ghép do kết hợp 2 từ đơn theo quan hệ chính-phụ (神速 thần tốc, 軍事 quân sự, 火車 hoả xa…), từ ghép do kết hợp 2 từ đơn hợp thành 1 chỉnh thể mang 1 ý nghĩa riêng biệt, có thể là rút gọn của một nhóm từ (君子quân tử, thiên hạ 天下…).

Từ gộp la từ đơn âm nhưng lại có ý nghĩa không đơn giản, nó kiêm 2 loại ý nghĩa vốn có tác dụng khác nhau. Phần lớn từ gộp là từ hợp âm (諸 chư = 之 於 chi ư, 盍 hạp = 何不 hà bất…).

8.1.3. Đặc điểm của từ:

8.1.3.1. Đơn âm tiết: từ đơn âm chiếm đa số (đặc điểm các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hán Tạng). Vd: 人 nhân, 馬 mã, 水 thuỷ, 海 hải, 山 san, 車 xa… Trường hợp từ song âm rất hiếm, như 玫瑰 mai côi, 葡萄 bồ đào… Về sau, do sự phát triển của ngôn ngữ, các từ song âm hình thành: 君子 quân tử , 天下 thiên hạ, 小 人 tiểu nhân…

8.1.3.2. Không biến hình thái: chẳng hạn, động từ HỌC chia ở các ngôi vẫn không thay đổi hình thái: 我學, 汝學 , 汝等學 … (so sánh tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp…).

8.1.3.3. Nhiều từ đồng âm: ngôn ngữ nào cũng có từ đồng âm, song trong tiếng Hán thì hiện tường đồng âm có thể coi là một nét cá biệt vì quá nhiều. Đó cũng là biểu hiện của tính nghèo nàn về âm, vận trong tiếng Hán. Người ta thường lợi dụng đặc điểm này để chơi chữ; chẳng hạn giai thoại đối đáp giữa quan thị và quan vũ: 

Quan thị: “Vũ cậy khoẻ 武 vũ ra vũ múa 舞, vũ gặp mưa 雨 vũ ướt cả lông 羽”

Quan vũ: “Thị vào chầu 侍thị đứng thị xem 視, thị cũng thèm 嗜 thị không có ấy 是”

Với âm THỊ còn có những từ khác như: 氏,市,示,恃 … VŨ còn có 侮,鵡,宇…

8.1.3.4. Nhiều từ đồng nghĩa: từ đồng nghĩa nói chung trong nhiều ngôn ngữ thể hiện các sắc thái tu từ khác nhau. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp ở văn ngôn lại là sự quy định. Cùng là chỉ khái niệm chết, nhưng dùng cho thiên tử là  崩 băng, vua chư hầu薨 hoăng, đại phu 卒 tốt, sĩ 失 祿 thất lộc, thứ dân 死 tử…

8.1.3.5. Những đặc điểm về nghĩa:

+ Nghĩa gốc – nghĩa mở rộng: trong văn ngôn nói chung, một từ không chỉ có một nghĩa (không kể trường hợp chữ giả tá là mượn chữ của từ khác để gởi âm). Nếu một từ có hơn một nghĩa, ắt có một nghĩa gốc, còn lại là nghĩa mở rộng. Các nghĩa này thường có mối quan hệ biện chứng nhau. Vd,  習 tập, nghĩa gốc là: chim bay lượn trước tổ, nghĩa mở rộng là: làm đi làm lại nhiều lần ◇ rèn luyện ◇ quen, quen thuộc…

+ Nghĩa cổ – nghĩa kim: nghĩa cổ là nghĩa trong văn ngôn, nghĩa kim là nghĩa hiện đại.

Các nghĩa này có thể vẫn giữ nguyên, có thể khác nhau, có thể liên quan về nghĩa, có thể không:

Thực thể        Thuật chuyện          Phân biệt

Danh từ          Động từ                 Hình dung từ

Đại từ                                           Phó từ

Quan hệ          Ngữ trợ

Liên từ         Trợ từ

Giới từ         Thán từ

Cổ kim như nhau: 人 nhân, 水 thuỷ, 山 sơn… Cổ kim khác nhau nhưng có liên quan về nghĩa: 走 tẩu, cổ: chạy ◇ kim: đi. 湯 thang, cổ: nước đun sôi ◇ kim: (nước) canh… 

Cổ kim khác nhau không liên quan về nghĩa: 快 cổ: vui vẻ, thích ◇ kim: nhanh.

8.1.4. Phân loại từ:

Sơ đồ phân loại từ theo từ loại:

TỪ

Thực từ                                                                               Hư từ

Từ loại là cơ sở của từ pháp. Phân chia từ loại dựa vào 3 tiêu chuẩn: khái niệm, hình thái, công năng. Ba tiêu chuẩn trên có liên quan và bổ sung cho nhau. Trong văn ngôn, hiện tượng một từ nhiều nghĩa rất phổ biến, sự vận dụng từ loại lại rất linh hoạt. Do đó, một từ nếu đứng riêng lẻ thường rất khó xác định từ loại, thậm chí cả ý nghĩa của nó.

Trên cơ sở phân biệt từ loại, nếu chỉ nhìn vào chức năng và tác dụng của từ trong câu, ta có sự phân loại lớn hơn:

+ Từ thực thể: nội dung đại biểu cho sự vật thực thể

+ Từ thuật chuyện: làm nhiệm vụ chủ yếu của vị ngữ

+ Từ phân biệt: làm nhiệm vụ tu sức (modify).

+ Từ quan hệ: biểu thị quan hệ giữa các đơn vị cùng loại, hoặc giữa sự vật với hành động, trạng thái.

+ Từ ngữ trợ: không có nghĩa cụ thể, chỉ có tác dụng biểu đạt ngữ khí trong hoặc ngoài câu.

Nếu căn cứ vào tiêu chí nghĩa của từ, người ta chia toàn bộ từ trong kho từ vị Hán ngữ thành thực từ và hư từ:

+ Thực từ: bản thân chúng có nghĩa từ vựng (+NP).

+ Hư từ: bản thân chúng không có nghĩa từ vựng, chỉ có nghĩa ngữ pháp.

Một từ nói chung thuộc một từ loại nhất định. Chức năng NP của mỗi từ loại cũng có sự phân công nhất định. Tuy nhiên, trong văn ngôn, việc sử dụng linh hoạt các từ loại để tạo câu là hiện tương phổ biến. Chẳng hạn: dt dùng làm đgt, đgt dùng làm dt, dt đgt hdt dùng làm pht… Sự vận dụng linh hoạt này chẳng qua là chức năng lâm thời của từ trong câu.

Có  những  đơn  vị  lớn  hơn  từ  về  ý  nghĩa  nhưng  chưa  thành  câu,  lại  có  chức  năng đồng đẳng với từ - đó là nhóm từ, cũng gọi cụm từ. Chúng khác với từ về cấu tạo và khả năng biểu đạt nội dung ý nghĩa, do một số từ liên kết với nhau và biểu đạt nội dung phức tạp hơn từ, nhưng có thể thay từ làm thành phần của câu. Tuỳ theo tính chất, đặc điểm của  quan  hệ  nội  bộ  giữa  các  thành  tố  mà  nhóm từ  có  thể  chia  thành  các  nhóm  chính: nhóm từ đẳng lập, nhóm từ chính phụ, nhóm chủ vị, nhóm động tân, nhóm giới tân…

8.2. Câu trong văn ngôn:

Ngữ pháp tiếng Hán không có sự phân minh đâu ra đó như tiếng Anh, tiếng Pháp…

Trong văn ngôn, phương tiện chủ yếu  biểu đạt mối quan hệ cú pháp là trật tự của từ phối hợp với việc sử dụng các hư từ

8.2.1. Trật tự của từ:

Trật từ của từ trong câu văn ngôn rất quan trọng. Nếu thay đổi trật tự này thì nghĩa của câu cũng thay đổi theo. Dưới đây là các mô hình câu chủ yếu:

+ Trật tự thông thường nhất của các từ trong câu là:

Ví dụ:            鳥  //  飛

+ Nếu có tân ngữ của động từ thì:

Ví dụ:    王  //  有  /  女 (大越史記全書)

+  Nếu  có  các  thành  phần  phụ,  tu  sức,  hạn  chế  cho  các  thành  phần  chính  thì  các thành phần chính, phụ của câu thường được sắp xếp như sau:

Chủ ngữ // Vị ngữ

Chủ ngữ // Vị ngữ / Tân ngữ

đng – C //  trng - V - bng / đng - T  (có thể có bng)

Ví dụ:

明王  //  有  /  聖(大越史記全書)

吾三省吾身(為人謀而不忠乎?與朋友交而不信乎?傳不習乎?)(論)

我善養吾浩然之氣 (孟)

Vào vị trí giữa đng và C, giữa đng và T, có thể có trợ từ kết cấu 之 chi. Trong văn ngôn, đôi khi có hiện tượng câu vắng chủ ngữ (tỉnh lược chủ ngữ/ chủ ngữ ẩn).

Ngoại lệ: Trong câu nghi vấn và câu phủ định, nếu T là đt thì T đó thường đứng trước V.

Vd:  吾誰欺? 欺天乎?

時不我待。

Chú ý: Nếu xác định thành phần/ chức năng khác nhau, tức đồng thời xác định nghĩa của câu khác nhau:

Vd: 豕人立而啼 (左)

(thuyết minh và dùng ký hiệu phân tích NP, chứng minh)

8.2.2.  Ngữ – các loại ngữ:

Khái niệm “ngữ” ở đây là để chỉ các thành phần của câu xét về mặt chức năng ngữ pháp của nó, tức nói đến vai trò, tác dụng của nó trong việc cấu tạo câu. Do đó, ngữ có thể là 1 từ, có thể là đơn vị lớn hơn từ (như nhóm từ, kết cấu C-V…).

8.2.2.1. Chủ ngữ: là đối tượng trần thuật của vị ngữ, trả lời câu hỏi “ai”, “cái gì”.

Thế nên chỉ có từ thực thể mới đủ tư cách (có thể từ loại khác khi được dùng như Dt).

Vd: 王有女 (大越史記全書)

8.2.2.2. Vị ngữ: thành phần trần thuật về chủ ngữ, nói rõ chủ ngữ “là gì”, “làm gì”,

“như thế nào”… Từ thuật chuyện lam vị ngữ. Dt, Hdt, Đgt… cũng có thể làm vị ngữ, lúc

này chúng được sử dụng như Đgt.

Vd: 國富兵強 (皇黎一統志)

8.2.2.3. Tân ngữ: thành phần chịu sự tác động của Đgt, làm đối tư?ng của động tác.

Cũng như C, T trả lời câu hỏi “ ai”, “ cái gì”. Thế nên, về từ loại, nó chỉ có thể Dt hoặc

Đt mà thôi.

Vd: 於是飲酒樂甚 (穌軾)

戰於鄒山之下 (嶺南摭怪)

Vd: 朕甚痛之(李太祖)

8.2.2.4. Định ngữ: thành phần đứng trước từ thực thể (thường là C hoặc T) để tu

sức, hạn chế cho từ thực thể đó, ở giữa có thể có trợ từ kết cấu 之. Hdt, Đt, Dt, số lường từ, kết cấu động tân… có thể làm Đng.

Vd: 明王有聖女(大越史記全書)

8.2.2.5. Trạng ngữ: thành phần đứng trước để tu sức cho Đgt, Hdt (thường là V).

Pht, Hdt, số lượng từ, Dt, kết cấu C-V… có thể làm Trng.

Vd:  朕甚痛之(李太祖)

豕 人 立 而 啼 (左)

8.2.2.6. Bổ ngữ: thành phần đứng sau Đgt, Hdt (thường là V), để bổ sung hoặc nói rõ thêm Đgt hoặc Hdt là thế nào, bao nhiêu, bao lâu, nơi nào… Bng có khi đúng sau cả T để nói rõ hệ quả, ảnh hưởng của Đgt tác động vào T như thế nào.

8.3. Câu – Các loại câu:

Câu là đơn vị ngôn ngữ hoàn chỉnh, biểu đạt một ý hoàn chỉnh (đơn vị NP độc lập, diễn đạt một ý hoàn chỉnh, mang một ngữ đieu nhất định, do những từ hoặc cụm từ tổ hợp với nhau theo một quy tắc nhất định).

Thành phần cơ bản của câu: C // V / T

Thành phần phụ gia: định ngữ, trạng ngữ, bổ ngữ.

Thành phần độc lập: hô ngữ, thán ngữ.

Vd: 惡!是何言也? (孟)

Dựa theo những tiêu chí phân loại  khác nhau, câu sẽ được chia thành những loại khác nhau:

+ Chia theo kết cấu của câu, có: câu đơn (1 tổ chức C-V), câu kép (từ 2 tổ chức C-V).

+ Chia theo tính chất của vị ngữ, có: câu tự thuật, câu miêu tả, câu phán đoán.

+ Chia theo từ tính của vị ngữ, có: câu vị ngữ đgt, câu vị ngữ hdt, câu vị ngữ thể từ, câu vị ngữ C-V.

+ Chia theo ngữ khí của câu, có: câu khẳng định, câu phủ định, câu nghi vấn, câu cảm thán, câu cầu khiến, câu trần thuật.

+ Chia theo mối quan hệ giữa chũ ngữ – vị ngữ, có: câu chủ động, câu bị động.

Mỗi loại câu đều có đặc điểm riêng của nó.

Trong thi ca, do yêu cầu vần, đối và số lượng âm tiết có hạn, nên các quy định chặt chẽ về NP đôi khi không còn tuân thủ. Ở đây rất thường bắt gặp hiện tượng chủ ngữ ẩn, các thành phần câu bị đảo lộn trật tự, hư từ được hạn chế sử dụng ở mức thấp nhất. Để đọc hiểu tốt thơ ca nói chung, người đọc cần phải am hiểu về nhiều lĩnh vực như lịch sử, triết học, nói chung là nhiều tri thức về văn hoá cổ, không chỉ dừng lại ở các mẹo về ngữ pháp.


 
Copyright © 2015 CỎ VEN BỜ - Blogspot of Xiaobao