Từ “Nguỵ
Thư Tân Ước”
MR James - Bản dịch và Ghi chú
Oxford:
Clarendon Press, 1924
Bản dịch tham khảo bởi Nguyễn Hoàng Bảo
---------------
I.
1 Trong lịch sử mười hai chi tộc Ít-ra-en có
ghi chép về một ông tên là Gioa-kim, cực kỳ giàu có. Ông đã dâng gấp đôi phần của
lễ và nói rằng: “Phần thừa này sẽ dành cho toàn thể mọi người, và còn phần này
sẽ dành cho Đức Chúa để xin ơn tha thứ, xin Người xá tội cho tôi”.
2 Bấy giờ, ngày trọng đại của Chúa đã đến
gần và mọi con cái của Ít-ra-en dâng tiến lễ vật của mình. Bà Rêu-ben đứng đối
diện nói: “Thật không chính đáng khi ông dâng lễ vật của mình trước, ông sẽ
không có được nồi giống nào của Ít-ra-en đâu”.
3 Gioa-kim rất đau buồn, đi đến bản ghi chép của
mười hai chi tộc và nói rằng: “Tôi sẽ chú ý quan sát bản ghi chép của mười hai
chi tộc Ít-ra-en, dù tôi không xin được người con nào của Ít-ra-en”. Ông đã tìm
thấy tất cả những người công chính đã nuôi nấng nồi giống của Ít-ra-en. Ông nhớ
đến tổ phụ Áp-ra-ham, nhớ đến cách Đức Chúa đã cho ông một đứa con trai là I-sa-ác
vào những ngày sau cùng.
4 Gioa-kim đã rất đau buồn nhưng không cho vợ mình
biết. Ông đi vào hoang địa và dựng lều ở đó. Ông ăn chay bốn mươi ngày đêm và
tự nhủ: Tôi sẽ không ăn thịt hay uống rượu cho đến khi Đức Chúa là Chúa thượng
tôi đến thăm tôi, thịt và đồ uống sẽ là lời cầu nguyện của tôi.
II.
1 Bấy giờ,
vợ ông là bà An-na rên rỉ và khóc than gấp bội, bà nói: Tôi sẽ than khóc cảnh
goá bụa và không có con cái của mình.
2 Ngày
trọng đại của Chúa đã đến gần. Giu-đi-tha, người hầu
gái nói: “Bà định hạ mình đến bao lâu nữa? Ngày trọng đại của Chúa đã đến mà bà
cứ than khóc vậy thì thật không hay. Bà hãy đeo chiếc dải buộc này, bà chủ chỗ tôi
làm đã cho tôi, và tôi không thể đeo nó vì tôi là một người hầu gái, mà nó lại
có dấu ấn hoàng gia”.
Bà An-na nói: “Hãy lấy nó ra khỏi ta. Lạy Chúa! Ta
đã không làm gì mà Đức Chúa lại hạ bệ ta. Có lẽ ai đó đã khôn khéo đưa nó cho ngươi
để khiến ta chung phần vào tội lỗi của ngươi”. Giu-đi-tha nói: “Sao con có
thể nguyền rủa bà được khi thấy Đức Chúa đóng kín cung lòng bà và không cho bà
người con nào trong Ít-ra-en?”
3 Bà An-na
rất đau buồn và xót xa, vì bà là một điều đáng xấu hổ cho mọi chi tộc Ít-ra-en. Bà
nói với mình: “Tôi sẽ làm gì đây? Tôi sẽ cầu nguyện mà khóc lóc với Đức Chúa
là Chúa thượng tôi để Ngài đến viếng thăm tôi”. Và bà đã cởi bỏ chiếc áo
tang, tắm rửa sạch sẽ và mặc chiếc áo cưới. Khoảng giờ thứ chín, bà xuống vườn
đi dạo. Bà nhìn thấy một cây nguyệt quế và ngồi xuống bên dưới mà cầu xin
Chúa rằng: “Lạy Thiên Chúa của cha ông chúng con, xin chúc lành cho con và lắng
nghe lời cầu nguyện của con, như Ngài đã chúc lành cho Sa-ra và cho bà ấy một người
con là I-sa-ác”.
III.
1 Khi nhìn
lên thấy một tổ chim sẻ trên cây nguyệt quế, bà than khóc trong lòng rằng: “Khốn
thân tôi, ai đã sinh tôi ra? Cung lòng nào đã đưa tôi ra để tôi bị nguyền
rủa trước mặt con cái Ít-ra-en, để tôi bị sỉ nhục và nhạo báng trong đền thờ Đức
Chúa?”
2 “Khốn thân
tôi, tôi được ví như gì đây? Tôi còn không được xem như những con chim trời
kia, vì lạy Đức Chúa, ngay cả chúng cũng sinh sản nhiều trước mặt Ngài. Khốn
thân tôi, tôi được ví như gì đây? Tôi còn không được xem như những thú vật
trên mặt đất kia, vì lạy Đức Chúa, ngay cả chúng cũng sinh sản nhiều trước mặt
Ngài. Khốn thân tôi, tôi được ví như gì đây? Tôi còn không được xem
như những khối nước này, vì lạy Đức Chúa, ngay cả chúng cũng có ích trước mặt
Ngài.”
3 “Khốn thân
tôi, tôi được ví như gì đây? Tôi còn không thể so với mặt đất này, vì lạy
Đức Chúa, ngay cả chúng cũng sinh hoa kết trái đúng mùa”.
IV.
1 Và kìa,
một thiên thần Chúa hiện ra nói với bà: “An-na, An-na, Đức Chúa đã đoái nghe
lời cầu nguyện của bà. Bà sẽ thụ thai và sinh hạ một dòng dõi được toàn cõi địa
cầu biết đến”. Bà An-na nói: “Có Đức Chúa hằng sống, dù tôi có sinh con trai
hay con gái, tôi cũng sẽ mang đứa bé dâng cho Đức Chúa là Thiên Chúa của tôi,
và đứa bé sẽ hầu việc Ngài mọi ngày trong suốt cuộc đời của nó”.
2 Có hai sứ
giả đến nói với bà: “Kìa Gioa-kim chồng bà đang về cùng với đàn gia súc, vì một
thiên thần Chúa đã đến nói với ông ta: Gioa-kim, Gioa-kim, Đức Chúa là Thiên
Chúa đã đoái nghe lời cầu nguyện của ông. Vậy nên ngươi hãy đi xuống, vì đây, vợ
ngươi là An-na đã thụ thai”.
3 Gioa-kim
ngồi xuống và gọi những người chăn gia súc của mình lại mà nói:
“Hãy mang cho tôi mười con cừu non không bị
tật hay tì vết, vì chúng sẽ được dành cho Đức Chúa là Thiên Chúa của tôi. Và hãy
mang cho tôi mười hai con bê non, vì chúng sẽ được dành cho các thầy tư tế cũng
như toàn thể các bô lão; và một trăm con dê non cho hết thảy mọi người.”
4 Kìa Gioa-kim
đã về cùng với đàn gia súc. Bà An-na đứng ở cổng và nhìn thấy Gioa-kim đến, liền
chạy ra quàng tay lên cổ ông mà nói: “Bây giờ tôi biết rằng Đức Chúa là Thiên
Chúa đã chúc lành cho tôi rất nhiều, vì đây bà góa đã không còn là bà góa nữa,
và kẻ son sẻ lại được thụ thai”. Và Gioa-kim đã nghỉ ngơi trong nhà của mình.
V.
1 Ngày hôm
sau, ông Gioa-kim dâng lễ vật của mình và tự nhủ rằng: “Nếu tôi đã giao hoà Đức
Chúa là Thiên Chúa thì huy hiệu trên trán thầy tư tế sẽ cho biết điều đó”. Gioa-kim
đã dâng của lễ của mình và nhìn lên huy hiệu của thầy tư tế khi ông đi lên bàn
thờ đá, ông đã không thấy tội của mình trên đó. Ông Gioa-kim nói: “Giờ đây tôi
biết rằng Đức Chúa đã nên điềm lành cho tôi và đã tha thứ mọi tội lỗi của tôi”.
Ông ra khỏi Đền thờ của Đức Chúa công minh và đi về nhà mình.
2 Và sau
nhiều tháng mang thai, đến tháng thứ chín thì bà An-na sinh con. Bà hỏi bà đỡ: “Tôi
đã sinh con trai hay con gái?” Bà đỡ bảo: “Một cô con cái”. Bà An-na nói: “Hôm
nay tâm trí tôi thật vui mừng”, rồi bà nằm xuống. Sau những ngày ấy, bà An-na
đã thanh tẩy chính mình, bà cho đứa trẻ bú và gọi tên con trẻ là Ma-ri-a.
VI.
1 Ngày qua
ngày, đứa trẻ càng trở nên mạnh khoẻ. Khi cô được sáu tháng tuổi, mẹ cô để cô
đứng trên mặt đất thử xem cô có đứng vững không. Cô đi được bảy bước và trở lại
lòng bà. Bà bắt lấy cô ấy và nói: “Có Đức Chúa là Thiên Chúa hằng sống, con sẽ
không đi trên mặt đất này cho đến khi mẹ mang con vào đền thờ của Đức Chúa”. Bà
đã làm một bàn thờ trong buồng ngủ của mình để những thứ không sạch sẽ không đi
vào được. Bà tìm những đứa con gái Híp-ri không bị ô uế, và họ mang đến cho bà
những đứa trẻ từ nhiều nơi.
2 Vào năm đứa
trẻ lên một, ông Gioa-kim đã làm một bữa tiệc lớn rồi mời các thầy tư tế và các
kinh sư, nhóm các bô lão và toàn thể dân Ít-ra-en. Gioa-kim mang đứa trẻ đến cho
các thầy tư tế để họ chúc lành cho cô. Họ nói: “Lạy Thiên Chúa tổ phụ chúng con,
xin hãy chúc lành cho đứa trẻ này và cho tên tuổi con bé được biết đến trong
mọi thế hệ”. Và tất cả mọi người nói: “Đúng như thế, đúng như thế. Amen.” Và ông
Gioa-kim cũng mang cô đến các vị thượng tế để họ chúc lành cho cô. Họ nói: “Lạy
Chúa trên cao, xin hãy đoái nhìn đứa trẻ này và chúc phúc cho đứa con duy nhất
này.”
3 Bà dẫn cô
vào buồng ngủ rồi cho cô bú. Bà An-na đã hát một bài kính Đức Chúa:
“Tôi sẽ hát một bài chúc tụng Đức Chúa là
Chúa thượng tôi,
vì Người đã đến viếng thăm tôi và cất khỏi tôi sự sỉ nhục nơi kẻ thù tôi,
và Đức Chúa đã ban cho tôi một dòng dõi công chính,
duy nhất và đông đúc trước mặt Người.
Ai sẽ nói cho những đứa con của Rêu-ben rằng An-na đang cho con bú?
Hãy lắng nghe, hỡi mười hai chi tộc Ít-ra-en, rằng An-na đang cho con bú.”
Bà đặt đứa trẻ nằm nghỉ trong buồng ngủ của mình rồi bà đi ra phục vụ họ. Khi
bữa tiệc kết thúc, họ tập hợp lại để vui mừng và tôn vinh Đức Chúa của Ít-ra-en.
VII.
1 Khi đứa
trẻ được hai tuổi, ông Gioa-kim nói: “Chúng ta hãy mang đứa bé lên đền thờ của Đức
Chúa như đã hứa. Sợ rằng Chúa đòi hỏi điều đó ở chúng ta, nếu không của lễ
của chúng ta sẽ không được chấp nhận nữa”. Bà An-na nói: “Chúng ta hãy đợi
đến khi con bé được ba tuổi, cũng không lâu đâu.” Ông Gioa-kim nói: “Vậy chúng
ta hãy đợi”.
2 Khi đứa
trẻ được ba tuổi, ông Gioa-kim nói: “Hãy gọi những đứa con gái người Híp-ri
không bị ô uế đến và hãy lấy cho họ mỗi người một cái đèn và thắp chúng lên. Hãy
làm điều đó để đứa trẻ không quay đầu lại và lòng con bé sẽ không rời xa đền
thờ của Đức Chúa. Và họ đã làm như vậy cho đến khi họ đi lên đền thờ của Đức Chúa.
Thầy tư tế đón nhận cô, ông hôn cô và chúc
lành cho cô: “Đức Chúa sẽ tôn vinh danh con giữa muôn thế hệ. Nhờ con mà sau
này, Đức Chúa sẽ tỏ bày ơn cứu độ của Người cho dân Ít-ra-en. Và Người sẽ cho
con ngồi trên bậc tam cấp của bệ thờ. Đức Chúa sẽ tuôn đổ ân sủng cho con
và con sẽ nhảy múa trên đôi chân mình. Mọi dân tộc nhà Ít-ra-en sẽ yêu mến con.”
VIII.
1 Cha mẹ cô lấy
làm kinh ngạc và ngợi khen Đức Chúa là Thiên Chúa vì cô bé đã không quay lại
phía sau. Và Ma-ri-a đã ở trong đền thờ của Đức Chúa như một con chim bồ câu được
nuôi nấng. Cô đã được nhận thức ăn từ bàn tay của một thiên thần.
2 Khi cô được
mười hai tuổi, hội đồng các thầy tư tế nói rằng: “Kìa Ma-ri-a sắp được mười hai
tuổi rồi. Chúng ta sẽ làm gì với con bé đây, kẻo con bé sẽ làm ô uế nơi
tôn nghiêm của Đức Chúa?” Và họ nói với vị thượng tế: “Xin Ngài hãy vào bàn thờ
của Đức Chúa mà cầu nguyện về con bé. Bất kỳ điều gì Chúa tỏ cho ngài thì chúng
tôi sẽ làm theo.”
3 Vị thượng
tế mặc áo lễ có hai chiếc chuông, đi đến nơi Cực Thánh và cầu nguyện về cô ấy. Và
kìa, một thiên thần của Chúa hiện ra nói rằng: “Da-ca-ri-a, Da-ca-ri-a, hãy đi
tập họp những người goá vợ trong dân. Hãy cho mỗi người cầm một cây gậy và bất
cứ ai mà Thiên Chúa tỏ ra một dấu chỉ, thì cô ấy sẽ là vợ của người đó”. Các sứ
giả đã đi khắp mọi miền vùng Giu-đê, và khi tiếng kèn của Chúa vang lên, tất cả
những người đàn ông đã chạy đến đó.
IX.
1 Giu-se cũng
bỏ rìu xuống và chạy đến gặp họ. Khi tập hợp xong, họ đi đến gặp vị thượng tế để
lấy gậy của mình. Họ nhận lấy cây gậy và đi vào đền thờ cầu nguyện. Khi
cầu nguyện xong, họ cầm cây gậy đi ra ngoài và trả lại mà không có dấu chỉ nào
trên cây gậy. Nhưng khi Giu-se nhận được cây gậy cuối cùng, và kìa, một con
chim bồ câu bay đến cây gậy và đậu xuống chỗ Giu-se. Vị thượng tế nói với Giu-se:
Ngươi sẽ lấy người trinh nữ này của Đức Chúa và giữ nàng cho riêng mình.
2 Nhưng Giu-se
từ chối và nói: “Tôi có con trai, và tôi là một ông già, còn cô ấy lại là một
cô gái: e rằng tôi sẽ trở thành trò cười cho con cháu nhà Ít-ra-en”. Vị thượng
tế nói với Giu-se: “Đức Chúa là Thiên Chúa của ông, ông hãy nhớ những điều Đức
Chúa đã làm với Đa-than, A-bi-ram và Ko-ra, mặt đất rẽ ra và nuốt chửng họ như
thế nào vì đã từ chối. Vậy ông hãy kính sợ đi Giu-se, đừng để điều đó vào nhà ông.”
Giu-se hoảng sợ và dẫn cô ấy về nhà mình. Giu-se nói với Ma-ri-a: “Kìa, tôi đã đón
nhận nàng từ đền thờ của Đức Chúa. Giờ tôi sẽ đưa nàng về nhà tôi. Tôi còn phải
đi xa để xây nhà và tôi sẽ trở lại cùng nàng. Đức Chúa sẽ trông chừng nàng.”
X.
1 Bấy giờ, hội
đồng các thầy tư tế nói rằng: “Chúng ta hãy làm một bức màn che cho đền thờ của
Đức Chúa.” Thầy tư tế nói: “Hãy cho gọi những cô trinh nữ thanh sạch của dòng
họ Đa-vít.” Các sĩ quan ra đi và đã tìm thấy bảy cô trinh nữ.
2 Các thầy tư
tế nhớ đến đứa trẻ Ma-ri-a. Cô cũng thuộc dòng họ Đa-vít và không bị ô uế trước
mặt Đức Chúa, nên các sĩ quan cũng đã đến đưa cô đi. Họ được dẫn vào trong đền
thờ của Đức Chúa. Thầy tư tế nói: “Hãy để tôi rút thăm xem ai trong các người sẽ
dệt vải màu vàng và màu trắng, màu ngói và màu xanh tía, màu đỏ tía và màu tía”.
Nhiều vải màu đỏ tía và màu tía được đưa cho Ma-ri-a, và cô mang chúng về nhà
mình. Ma-ri-a lấy vải màu đỏ tía ra và bắt đầu quay tơ.
[Đó là lúc ông Da-ca-ri-a bị câm, và Sa-mu-en
đã thay cho ông đến khi ông Da-ca-ri-a nói lại được.]
XL
1 Ma-ri-a
lấy bình đựng và đi ra ngoài đổ đầy nước. Và kìa có một giọng nói vang lên: “Kính
chào cô, cô được đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng cô, cô thật có phúc giữa muôn
phụ nữ.”
Cô nhìn trái nhìn phải để xem giọng nói
đến từ đâu. Đầy sợ hãi, cô trở về nhà mình và đặt bình nước xuống, lấy vải màu
tía, sau đó ngồi xuống mà kéo sợi.
2 Một thiên
thần của Đức Chúa đứng trước mặt cô và nói: “Này Ma-ri-a, đừng sợ vì cô được
đẹp lòng Đức Chúa, và cô sẽ mang thai Lời của Người.” Khi nghe điều ấy, cô tự
hỏi: “Làm sao tôi mang thai Thiên Chúa hằng sống và sinh ra như mọi người phụ
nữ được?” Sứ thần của Đức Chúa nói: “Này Ma-ri-a, không phải thế, vì quyền năng
của Đức Chúa sẽ rợp bóng trên cô. Do đó, Đấng Thánh sắp sinh sẽ được gọi là Con
Đấng Tối Cao. Cô sẽ đặt tên con trẻ là Giê-su, vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội
lỗi.” Ma-ri-a thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Đức Chúa. Xin hãy làm cho tôi như lời
ngài nói.”
XII
1 Ma-ri-a đã
dệt vải màu tía và màu đỏ tía rồi mang chúng đến cho các thầy tư tế. Thầy tư tế
chúc lành cho cô và nói rằng: “Này Ma-ri-a, Đức Chúa là Thiên Chúa đã tán dương
danh con, và con sẽ được chúc phúc giữa mọi thế hệ trên mặt đất.”
2 Ma-ri-a
vui mừng và đi thăm Ê-li-sa-bét, người chị họ của cô. Khi nghe tiếng Ma-ri-a gõ
cửa, Ê-li-sa-bét bỏ tấm vải lông cừu xuống và chạy ra mở cửa. Khi thấy Ma-ri-a,
bà đã chúc lành cho cô rằng: “Bởi đâu tôi được thân mẫu của Đức Chúa đến viếng
thăm tôi thế này? Vì này đây đứa con trong bụng tôi đã nhảy lên vui sướng.”
Bấy giờ Ma-ri-a đã quên mất những mầu nhiệm mà Tổng lãnh thiên thần Gáp-ri-en đã
nói, cô nhìn lên trời và nói rằng: “Lạy Đức Chúa, con là ai mà muôn thế hệ trên
mặt đất sẽ chúc phúc cho con?”
3 Ma-ri-a ở
lại với Ê-li-sa-bét độ ba tháng. Đứa con trong bụng cô ngày càng lớn lên nên Ma-ri-a
sợ hãi rời khỏi nhà mình và ẩn mình khỏi con cái của Ít-ra-en. Bấy giờ cô được mười
sáu tuổi khi những điều ấy xảy đến với cô.
XIII
1 Bấy giờ
đã là tháng thứ sáu, và kìa Giu-se đã trở về nhà. Vừa vào nhà, ông đã hết sức
kinh ngạc về đứa trẻ. Ông vỗ vào mặt và ngã quỵ xuống đất với chiếc áo vải
thô rồi khóc lóc thảm thiết rằng: “Tôi sẽ đối diện với Đức Chúa là Thiên Chúa
của tôi ra sao đây? Tôi sẽ cầu nguyện gì về người con gái này đây? Vì tôi
đã đón nhận nàng là một trinh nữ từ đền thờ của Đức Chúa, và đã không giữ nàng
an toàn. Kẻ nào đã gài bãy tôi? Kẻ nào đã làm điều dữ này trong nhà tôi và
đã làm ô uế nàng? Chẳng phải là câu chuyện về A-đam được lặp lại cho tôi hay
sao? Vì lúc A-đam đi dâng lời tạ ơn, thì con rắn thấy E-va một mình nên đã
phỉnh lừa cô ấy. Và điều ấy đã xảy đến với tôi cũng như vậy.
2 Giu-se
trỗi dậy và cởi chiếc áo vải thô ra. Ông gọi Ma-ri-a đến và nói rằng: “Hỡi nàng,
người được Thiên Chúa giao cho tôi chăm sóc, tại sao nàng lại làm thế? Phải
chăng nàng đã lãng quên Đức Chúa là Thiên Chúa của nàng? Sao nàng lại hạ thấp
mình như thế? Chẳng phải nàng đã được nuôi dưỡng trong nơi Cực Thánh và đã nhận
thức ăn trong tay của một thiên thần hay sao?”
3 Ma-ri-a
khóc lóc thảm thiết nói: “Em trong sạch và em không biết đến người nam.” Giu-se
nói với nàng: “Vậy cái thai trong bụng nàng có từ khi nào?” Ma-ri-a nói: “Có
Đức Chúa là Thiên Chúa hằng sống, em không biết mình có thai từ khi nào.”
XIV.
1 Giu-se
rất sợ hãi và để Ma-ri-a một mình. Ông nghĩ xem mình phải làm gì với cô ấy đây.
Giu-se nói: “Nếu tôi che giấu tội nàng, tôi sẽ bị xem là chống lại luật Chúa. Còn
nếu tôi kể nàng vào số con cái Ít-ra-en, tôi sợ rằng cái thai trong bụng nàng
là dòng giống của một thiên thần, mà tôi lại giao nộp đứa con vô tội đó để xử
tội chết. Tôi sẽ làm gì đây? Tôi sẽ rời bỏ nàng một cách kín đáo.” Và bóng đêm
chụp xuống trên ông.
2 Một thiên thần
của Đức Chúa hiện ra với ông trong giấc mơ và nói rằng: “Đừng sợ đứa trẻ này, vì
đứa con trong bụng nàng là bởi Thánh Thần. Nàng sẽ sinh một con trai và ngươi
sẽ gọi tên nó là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân khỏi tội lỗi. Giu-se trỗi
dậy và chúc tụng Thiên Chúa của Ít-ra-en, Đấng bày tỏ sự yêu mến với Ma-ri-a.” Và
ông đã trông nom cô ấy.
XV.
1 Bấy giờ, có
một kinh sư tên là An-nát đến gặp Giu-se và nói: “Sao ông không đến trình diện
với hội đồng của chúng tôi?” Giu-se nói với anh ta: “Tôi mệt lừ với chuyến đi,
và tôi đã nghỉ ngơi một ngày”. Rồi An-nát quay người lại thì thấy Ma-ri-a với
đứa trẻ trong bụng.
2 Anh ta
vội vàng đến nói với thầy tư tế: “Giu-se, người mà ông nói là công chính đã
phạm trọng tội rồi.” Vị tư tế hỏi: “Chỗ nào?” Anh ta nói: “Người trinh nữ
mà ông ta đã đón nhận từ đền thờ của Đức Chúa, ông ta đã làm ô uế cô ấy, và lén
lút lấy cô ấy mà không công bố điều đó cho con cái Ít-ra-en biết.” Thầy tư tế
hỏi: “Giu-se đã làm vậy sao?” An-nát trả lời: “Hãy cử các sĩ quan đi xem
thì sẽ thấy người trinh nữ với đứa bé trong bụng.” Các sĩ quan đã đi và thấy
đúng như anh ta nói nên họ đã đưa Ma-ri-a cùng với Giu-se đến công nghị xét xử.
3 Thầy tư
tế nói: “Này Ma-ri-a, cớ sao cô lại làm vậy, cớ sao cô lại hạ thấp mình mà lãng
quên Đức Chúa là Thiên Chúa của cô, trong khi cô đã được nuôi dưỡng trong nơi
Cực Thánh và đã nhận thức ăn dưới tay của một thiên thần. Cô cũng đã nghe những
bài thánh ca và nhảy múa trước mặt Đức Chúa, vậy cớ sao cô lại làm vậy?” Nhưng cô
khóc lóc thảm thiết mà thưa rằng: “Có Đức Chúa là Thiên Chúa hằng sống, tôi
trong sạch và tôi không biết đến người nam.”
4 Thầy tư
tế nói với Giu-se: “Sao ông lại làm vậy chứ?” Giu-se nói: “Có Đức Chúa là
Thiên Chúa hằng sống, tôi thanh sạch về điều đó.” Thầy tư tế nói: “Đừng làm
chứng dối nhưng hãy nói sự thật. Ông đã lén lút lấy nàng mà không công bố cho
con cái Ít-ra-en biết. Và ông đã không cúi đầu dưới bàn tay uy quyền mà con cái
ông nên được chúc phúc.” Và Giu-se đã giữ im lặng.
XVI
1 Thầy tư
tế nói tiếp: “Hãy đền bù cho người trinh nữ mà ông đã đón nhận từ đền thờ của
Đức Chúa.” Và Giu-se đã khóc lóc thảm thiết. Thầy tư tế nói: “Tôi sẽ cho ông
uống nước thánh của Đức Chúa để kết tội ông, và nó sẽ cho thấy tội ông ngay trước
mắt.”
2 Thầy tư
tế lấy nước cho Giu-se uống và đưa ông vào vùng đồi núi. Nhưng ông quay trở
lại bình an vô sự. Thầy tư tế cũng lấy nước cho Ma-ri-a uống và đưa cô vào vùng
đồi núi. Nhưng cô ấy cũng quay trở lại bình an vô sự. Mọi người lấy làm kinh
ngạc vì tội lỗi không xuất hiện trên họ.
3 Thầy tư
tế nói: “Nếu Đức Chúa là Chúa thượng đã không kể tội họ và cũng không lên án họ,
vậy hãy để họ đi.” Sau đó, Giu-se đưa Ma-ri-a về nhà mình trong mừng vui
và ca tụng Thiên Chúa của Ít-ra-en.
XVII.
1 Thời ấy, hoàng
đế Au-gút-tô ra chiếu chỉ, truyền tất cả những ai ở Bê-lem của vùng Giu-đê phải
đi khai tên tuổi. Giu-se nói: “Mình sẽ đi khai tên các con của mình. Nhưng còn nàng
ta thì sao, mình sẽ làm gì với nàng ta đây? Sao mình có thể khai tên nàng
ta như vợ mình chứ? Không, mình xấu hổ lắm. Hay bảo nàng là con gái mình?
Nhưng tất cả con cái Ít-ra-en đều biết rằng nàng ta không phải là con gái mình. Ngày
của Đức Chúa sẽ làm như Chúa muốn.”
2 Và ông làm
cái yên trên lưng lừa và đặt cô lên đó. Con trai ông dắt lừa, còn Giu-se thì theo sau đó. Khi đến gần Bê-lem chừng ba
dặm, Giu-se quay người và thấy Ma-ri-a với vẻ mặt buồn bả, ông tự nhủ: “Có lẽ
đứa bé đang làm nàng đau.” Giu-se lại quay người và thấy Ma-ri-a đang cười, ông
nói với cô: “Này Ma-ri-a, điều gì khiến nàng lúc vui lúc buồn vậy?” Ma-ri-a nói
với Giu-se: “Vì em đã thấy có hai dân tộc, một đang khóc lóc và than van, một đang
hân hoan và vui mừng.”
3 Khi đi đến
giữa đường, Ma-ri-a nói với ông: “Hãy cho em xuống, vì đứa con trong bụng em sắp
chào đời.” Ông đưa cô xuống và nói: “Tôi phải đưa nàng đi đâu đây, vì đây là sa
mạc.”
XVIII.
1 Ông tìm
thấy một cái hang ở đó và đưa cô ấy vào trong. Ông sai các con mình đến bên cô
ấy, còn ông thì đi tìm một bà đỡ người Híp-ri trong vùng Bê-lem.
2 Bấy giờ, tôi
là Giu-se còn đang đi thì tôi dừng lại. Nhìn lên không trung, tôi đã thấy hết
sức kinh ngạc. Tôi nhìn lên thấy trời đứng yên, còn những con chim trời thì
không di chuyển. Tôi nhìn xuống đất thì thấy một bộ bát đĩa và những người thợ
nằm bên cạnh thì để tay trong đĩa. Họ dừng nhai, dừng lấy thức ăn, dừng đưa
chúng vào miệng, và mặt họ đều hướng lên trời. Kìa có những con cừu đang
được lùa đi nhưng chúng không đi về phía trước mà chỉ đứng yên, còn người chăn
cừu dùng gậy để đánh chúng nhưng tay họ vẫn đứng yên. Tôi nhìn vào dòng suối và
nhìn thấy miệng của những đứa trẻ trên mặt nước nhưng họ lại không uống. Bất
thình lình, mọi thứ chuyển động lại như cũ.
XIX.
1 Và kìa,
có một người phụ nữ đi xuống từ vùng đồi núi, bà ta hỏi tôi: “Này anh, anh đi đâu
thế?” Tôi đáp: “Tôi đang tìm một bà đỡ người Híp-ri.” Bà ấy tiếp tục hỏi: “Anh
là người Ít-ra-en?” Tôi đáp: “Vâng.” Bà ấy hỏi tiếp: “Thế cô gái sắp sinh
trong hang là ai?” Tôi đáp: “Cô ấy đã hứa hôn với tôi.” Bà ta nói: “Cô ấy
không phải là vợ của anh sao?” Tôi đáp: “Cô ấy là Ma-ri-a, cô ấy được nuôi
dưỡng trong đền thờ của Đức Chúa. Tôi đã đón nhận cô ấy về làm vợ bằng cách bốc
thăm. Cô ấy không phải là vợ tôi, nhưng cô ấy đã được thụ thai bởi Thánh Thần.”
Bà đỡ nói: “Đây có phải là sự thật không?” Giu-se nói: “Hãy đến mà xem.” Và bà
đỡ đã đi với ông.
2 Họ đứng
nơi hang đá, và kìa có đám mây sáng chói phủ bóng cái hang. Bà đỡ nói: “Hôm
nay, linh hồn tôi mừng vui, vì mắt tôi đã nhìn thấy những điều kỳ diệu: vị cứu
thế đã được sinh ra cho dân Ít-ra-en.” Ngay lập tức, đám mây tự rút ra
khỏi hang, và một luồng ánh sáng xuất hiện khiến mắt chúng tôi không thể chịu được. Rồi
dần dần, ánh sáng đó tự rút đi cho đến khi đứa trẻ xuất hiện. Và bà đỡ khóc lớn
tiếng mà nói: “Ngày hôm nay thật tuyệt vời với tôi, vì tôi được xem thấy cảnh
tượng mới mẻ này.”
3 Bà đỡ ra
khỏi hang thì Sa-lôm đến gặp bà. Bà nói với cô ấy: “Sa-lôm, Sa-lôm, tôi sẽ kể cho
cô nghe điều tôi đã thấy. Một trinh nữ đã hạ sinh mà trạng thái nguyên thuỷ của
cô ấy không sao.” Sa-lôm nói: “Có Đức Chúa là Thiên Chúa hằng sống, nếu tôi không
xem thử, tôi sẽ không tin rằng một trinh nữ đã hạ sinh.”
XX.
1 Bà đỡ đi
vào nói với Ma-ri-a: “Hãy tự mình sắp xếp, để không có sự tranh cãi nhỏ nào nảy
ra.” Sa-lôm đã đến xem thử và khóc lớn tiếng rằng: “Khốn cho sự gian ác của tôi
vì đã không tin, vì tôi đã thử Thiên Chúa hằng sống, và tay tôi phải rơi vào
lửa.”
2 Sa-lôm
quỳ trước Đức Chúa mà cầu nguyện rằng: “Lạy Thiên Chúa của tổ phụ con, xin hãy
nhớ rằng con là con cháu của Áp-ra-ham, của I-sa-ác và của Gia-cóp. Xin đừng
công khai khiến con làm gương cho con cái Ít-ra-en, nhưng xin thương phục hồi
con, vì Lạy Đức Chúa, Ngài biết con đã nhờ danh Ngài mà đi chữa trị, và con đã
nhận được việc làm thuê của con.”
3 Và kìa,
một thiên thần của Đức Chúa hiện ra nói với cô ấy: “Sa-lôm, Sa-lôm, Đức Chúa đã
lắng nghe tiếng ngươi. Hãy đưa tay ngươi đến gần và ẵm đứa trẻ lên, điều đó sẽ
mang lại ơn cứu rỗi và niềm vui cho ngươi.”
4 Sa-lôm
đến gần và ẵm đứa bé mà nói: “Tôi sẽ thờ phượng đứa bé, vì một vị vua vĩ đại đã
được sinh ra cho Ít-ra-en.” Ngay lập tức, Sa-lôm được chữa lành, cô ấy đi ra
khỏi hang. Kìa có một giọng nói lên tiếng rằng: “Sa-lôm, Sa-lôm, không kể bất
kỳ điều kỳ diệu nào ngươi đã được nhìn thấy, cho đến khi đứa trẻ vào thành
Giê-ru-sa-lem.”
XXI
1 Giu-se đã
sẵn sàng đi vào vùng Giu-đê. Nhưng đã xảy ra một vụ náo động lớn ở Bê-lem vùng Giu-đê,
vì có các nhà thông thái từ phương Đông đến nói rằng: “Đức Vua dân Do Thái mới
sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông,
nên chúng tôi đến bái lạy Người.”
2 Nghe tin
ấy, vua Hê-rô-đê bối rối và cử các sĩ quan đến gặp các nhà thông thái. Nhà vua liền
triệu tập các thầy thượng tế đến mà tra hỏi: “Kinh thánh viết thế nào về Đấng
Kitô, Người sinh ra ở đâu?” Họ trả lời nhà vua: “Tại Bê-lem miền Giu-đê, vì có
lời chép như vậy.” Và nhà vua để cho họ đi.
Nhà vua dò hỏi các nhà thông thái rằng: “Các
vị thấy dấu hiệu nào cho biết vị vua mới sinh ra?” Các nhà thông thái nói: “Chúng
tôi đã thấy một ngôi sao rất lớn tỏa sáng giữa các vì sao và làm lu mờ chúng khiến
chúng không xuất hiện. Bởi đó, chúng ta biết rằng một vị vua mới được sinh ra
cho dân Ít-ra-en, và chúng tôi đến để bái lạy Người.” Vua Hê-rô-đê nói: “Vậy các
vị hãy đi tìm Người, và nếu tìm được, hãy báo cho tôi biết, để tôi cũng đến và
bái lạy Người.”
3 Các nhà
thông thái ra đi. Bấy giờ, ngôi sao mà họ đã thấy ở phương Đông, tiếp tục dẫn
đường cho đến khi họ vào trong hang, còn nó thì dừng lại phía trên hang. Các
nhà thông thái đã nhìn thấy Hài Nhi cùng với mẹ của Người là Ma-ri-a. Rồi họ mở
bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến.
4 Sau đó,
họ được báo mộng là đừng vào lại miền Giu-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ
mình.
XXII.
1 Khi vua Hê-rô-đê
thấy mình bị các nhà thông thái đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận nên sai người
đi giết tất cả những đứa trẻ từ hai tuổi trở xuống.
2 Sau khi nghe
được tin bọn trẻ sẽ bị giết, Ma-ri-a rất hoảng sợ, cô mang đứa trẻ quấn tả lại
rồi đặt trong máng cỏ.
3 Còn
Ê-li-sa-bét khi nghe tin họ tìm giết Gio-an, liền mang đứa bé lên vùng đồi núi.
Bà nhìn quanh nơi bà giấu đứa bé nhưng không tìm được nơi che giấu. Vì bà không
thể đi lên được nữa nên bà rên rỉ lớn tiếng: “Ôi núi của Thiên Chúa, xin hãy
đón nhận người mẹ và đứa con này.” Ngay lập tức núi tách ra xa để bà đi vào. Và
có một ánh sáng luôn chiếu sáng cho họ. Vì một thiên thần của Đức Chúa ở với
họ, luôn theo dõi họ.
XXIII.
1 Bấy giờ, vua
Hê-rô-đê cho tìm kiếm Gio-an nên đã cử các sĩ quan đến gặp Da-ca-ri-a và nói: “Ngươi
giấu con trai ngươi đâu rồi?” Ông trả lời họ: “Tôi là người hầu việc của Đức
Chúa và tôi luôn ở trong đền thờ nên tôi không biết con trai tôi ở đâu.”
2 Các sĩ
quan rời đi và nói với vua Hê-rô-đê tất cả những điều này. Vua Hê-rô-đê tức
giận nói: “Con trai ông ta sẽ làm vua Ít-ra-en.” Nhà vua lại gửi lời cho ông
rằng: “Hãy nói sự thật đi, con trai ngươi ở đâu? Hãy biết rằng máu của ngươi
nằm trong tay ta.” Các sĩ quan đi nói với ông tất cả những điều này.
3 Da-ca-ri-a
nói: “Tôi là một kẻ chết cho Chúa, nếu Chúa đổ máu tôi ra. Đức Chúa sẽ nhận lấy
linh hồn tôi, vì Người đã đổ máu người vô tội trước sân đền thờ.” Vào lúc bình
minh, ông Da-ca-ri-a bị giết chết và dân Ít-ra-en không biết điều đó.
XXIV.
1 Vào giờ
chào chúc lành, các tư tế bước vào nhưng không gặp Da-ca-ri-a như trước. Các
tư tế đã đứng đợi để chào ông bằng lời cầu nguyện và tôn vinh Đấng Tối Cao.
2 Nhưng khi
ông không đến, tất cả đều sợ hãi. Một trong số họ đã lấy hết can đảm bước vào. Anh
ta thấy máu đông bên cạnh bàn thờ và có một giọng nói vang lên: “Da-ca-ri-a đã
bị giết, và máu của anh ta sẽ không được lau cho đến khi người báo thù cho ông đến.”
Khi nghe lời đó, anh ta sợ hãi, đi ra và nói lại với các thầy tư tế.
3 Họ lấy
hết can đảm đi vào và đã thấy những tấm bảng của đền thờ đang than khóc, chúng bị
xé ra từ trên xuống dưới. Họ không tìm thấy thi thể của ông, nhưng họ thấy
máu ông đã biến thành đá. Họ hoảng sợ, đi ra ngoài và nói với tất cả mọi người
rằng Da-ca-ri-a đã bị giết. Tất cả các chi tộc nghe thấy điều đó, họ thương
tiếc ông và than khóc cho ông ba ngày ba đêm. Ba ngày sau, các tư tế bàn bạc
xem ai sẽ thay thế ông, và lá thăm đã rơi trúng ông Si-mê-on. Bấy giờ, ông ta
được Thánh Thần báo cho biết là sẽ không thấy cái chết cho đến khi ông ta nhìn
thấy Đấng Ki-tô bằng xương bằng thịt.
XXV.
1 Tôi là
Gia-cô-bê, người đã viết lại lịch sử này tại Giê-ru-sa-lem. Có một cuộc náo
động khi vua Hê-rô-đê băng hà nên tôi đã rút vào vùng hoang mạc cho đến khi cuộc
náo động chấm dứt.
Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa, Đấng đã
ban cho tôi năng khiếu và sự khôn ngoan để viết nên lịch sử này.
2 Và ân sủng
sẽ đến cùng những ai kính sợ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Chúc tụng Người
đến muôn thuở muôn đời. Amen.